Trang chủ    Tài liệu
   Văn học
CHUYÊN ĐỀ MÔN VĂN 2014-2015: PHƯƠNG PHÁP LỒNG GHÉP TÍCH HỢP ĐỜI SỐNG XÃ HỘI VÀO DẠY HỌC MÔN NGỮ VĂN THPT - 09:23:06 PM | 03/04/2015
CHUYÊN ĐỀ: PHƯƠNG PHÁP LỒNG GHÉP TÍCH HỢP ĐỜI SỐNG XÃ HỘI VÀO DẠY HỌC MÔN NGỮ VĂN THPT

  

CHUYÊN ĐỀ:

PHƯƠNG PHÁP LỒNG GHÉP TÍCH HỢP

ĐỜI SỐNG XÃ HỘI VÀO DẠY HỌC MÔN NGỮ VĂN THPT

A.     ĐẶT VẤN ĐỀ:

Đất nước Việt Nam đang bước vào giai đoạn mới của nền công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Trước bối cảnh ấy nền giáo dục hiện đại của nước ta cần phải có những bước đổi mới mạnh mẽ để bước vào sự hòa nhập chung của thế giới. Nhiệm vụ đặt ra cho nhà giáo chúng ta hải có những cách suy nghĩ mới, phương pháp tư duy mới mẻ, khoa học nhằm mục đích hình thành, phát triển những năng lực học tập cho học sinh. Giáo viên giảng dạy bộ môn Ngữ Văn không những trang bị cho các em những kiến thức về bộ môn khoa học xã hội nhân văn; cách thức khai thác những tác phẩm, thể loại văn học,hình tượng nghệ thuật độc đáo, các biện pháp tu từ..mà nhiệm vụ của chúng ta hướng đến là trang bị phương pháp học tập tích cực cho học sinh, giúp các em biết vận dụng những kiến thức ấy vào thực tiễn đời sống, hiểu biết những vấn đề mang tính lịch sử, xã hội, tích hợp kiến thức liên môn về lịch sử, địa lí, giáo dục các kĩ năng sống, kiến thức văn hóa, môi trường, đạo đức…

Trong mảng kiến thức đa đạng và phong phú ấy điều lưu ý nhất là kiến thức từ thực tiễn đời sống xã hội mang tính thời sự đang diễn ra hàng ngày, hàng giờ không chỉ liên quan đến một vài cá nhân mà còn liên quan đến cộng đồng. Mỗi tác phẩm văn học dù là thơ trữ tình hay các truyện ngắn đều phản ánh một góc độ của đời sống. Người kĩ sư tâm hồn là thầy cô giáo ngữ văn của chúng ta phải chú trọng nhựng kiến thức tích hợp một cách linh hoạt trong mỗi bài dạy nhằm nâng cao nhận thức cho người học về những vấn đề đời sống xã hội để khi rời ghế nhà trường, các em có đủ bản lĩnh, ý chí, nghị lực, khả năng xử lí các tình huộng vốn dĩ rất đa dạng, phức tạp. Các em không bị ngỡ ngàng, hụt hẫng, thậm chí lo sợ trước những vấn đề xã hội.

Trường THPT Thăng Long chúng ta, học sinh còn thiếu các kĩ năng vận dụng vào đời sống, các kiến thức về môi trường văn hóa, đạo đức tấm gương Hồ Chí Minh. Từ đó việc triển khai chuyên đề là cần thiết.

B.    NỘI DUNG

    I. CƠ SỞ LÍ LUẬN

   1. Căn cứ: Căn cứ vào nhiệm vụ và quyền hạn của giáo viên cũng như nhiệm vụ trọng tâm trong năm học 2014-2015. Căn cứ vào đặc trưng của bộ môn ngữ văn luôn gắn với các hình ảnh sinh động, cách hình tượng nghệ thuật mang tính điển hình, sự trải nghiệm của mỗi tác giả kết hợp với tài năng, tâm huyết của mình đã xây dựng nên những tác phẩm hàm chứa những tri thức từ vẻ đẹp trong tình cảm, tâm hồn của con người, vẻ đẹp của thiên nhiên, các mối quan hệ trong đời sống…người giáo viên phải sử dụng phương pháp lồng ghép tích hợp khi giảng dạy cho học sinh.Căn cứ vào tầm nhận thức của lứa tuổi học sinh THPT, giai đoạn chuẩn bị vào đời cần phải được trang bị những kiến thức tổng hợp để vận dụng vào thực tiễn đời sống. Các em phải có kĩ năng nhận biết, phán đoán, tổng hợp, vận dụng từ cấp độ thấp đến cấp độ cao.. Người giáo viên chúng ta phải không ngừng nổ lực, vận dụng các kiến thức tích hợp từ thực tiễn xã hội đời sống vào mỗi bài giảng khi lên lớp.

   2.   Mục đích viết

Hiện nay Đảng và Nhà Nước đang đẩy mạnh việc tích cực đổi mới phương pháp, tạo sự chuyển biến sâu rộng trong quá trình dạy và học. Các phong trào học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh được thấm nhuần, lan rộng. người giáo viên tích hợp những phẩm chất cao đẹp của Bác: cần, kiệm, liêm chính, chí công, vô tư, lời nói đi đôi với việc làm, nhân cách cao cả, giàu tình yêu thương con người. Tiếp tục giáo dục cho học sinh ý thức bảo vệ môi trường, đây là vấn đề chung tay của cộng đồng. Giáo dục cho học sinh những kĩ năng sống cần thiết: giải quyết vấn đề, hòa nhập với cộng đồng, kĩ năng trao đổi, giao lưu, chia sẻ, làm việc theo nhóm.. Tích hợp các tri thức liên quan đến văn hóa, tín ngưỡng, phong tục, tập quán, văn hóa giao tiếp, văn hóa ăn mặc để giáo dục các em lối sống lành mạnh, dễ dàng với công đồng. Các kiến thức xã hội mang tính thời sự: vấn đề diễn biến hòa bình, âm mưu thủ đoạn các thế lực thù địch, bạo hành gia đình, quyền trẻ em, những thới hư tật xấu, vấn đề xói mòn về nhân phẩm, đạo đức giới trẻ đang có chiều hướng lệch lạc do ảnh hưởng của văn hóa nước ngoài…

     3.  Lí do viết:

Do tác động của bối cảnh xã hội, yêu cầu đổi mới giáo dục cần theo kịp bước tiến của toàn cầu. Mỗi học sinh THPT cần được trang bị những kiến thức tổng hợp của thực tiễn, xã hội đời sống. Bộ môn Ngữ văn được xem là đặc thù của nghệ thuật ngôn từ có sức lan tỏa lớn và ảnh hưởng sâu rộng đến nhận thức của học sinh.

Do yêu cầu đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục, Đảng Và Nhà nước đang chú trọng tạo tâm thế để dân tộc ta hội nhập với thế giới đòi hỏi tầng lớp thanh niên hiện nay, chủ nhân tương lai của đất nước phải thật sự thay đổi nếp sống, cách làm, trở thành người chủ nhân tương lai của đất nước. Cách đổi mới kiểm tra, đánh giá đối với bộ môn Ngữ Văn đang được chú trọng kết hợp đánh giá những  năng lực hiểu biết về tri thức đời sống xã hội. Nhằm đáp ứng yêu cầu này là sự kết hợp nhịp nhàng giữa quá trình dạy của giáo viên và quá trình học tập của học sinh.

    4. Tính khả thi

Với mục đích đã nêu trên, nhiệm vụ của nhóm bộ môn Ngữ Văn xây dựng kế hoạch cụ thể từ cơ sở lí luận đến biện pháp thực hiện cụ thể đối với việc giảng dạy những tác phẩm văn học hàm chứa các yếu tố trong đời sống xã hội. Mỗi giáo viên nâng cao ý thức vận dụng tích hợp các kiến thức xã hội đời sống phản ánh thực tiển đời sống, gắn với thời sự quê hương, đất nước. Sau khi thực hiện việc giảng dạy, nhóm bộ môn tiếp tục thảo luận, hội ý tìm ra những phương pháp tối ưu nhất để điều chỉnh, bổ sung trong quá trình giảng dạy.

   II. CƠ SỞ THỰC TIỄN  

      1.  Về phía học sinh:

             Trong nhà trường hiện nay, một số lượng lớn học sinh tỏ ra không mặn mà gì trong việc học tập môn Ngữ Văn, ít yêu thích, hứng thú với bộ môn Văn. Mỗi mùa tuyển sinh, số lượng học sinh đăng kí vào những ngành khoa học xã hội dần thưa đi. Đó là do guồng thác hiên đại hoá, nhu cầu phân giới nghề nghiệp trong xã hội cũng rất rõ. Một số em, dưới sự định hướng của gia đình thường thiên về những nghề "thời thượng" mà thôi. Bởi vì học các bộ môn chuyên ngành Văn chương ít có cơ hội tìm kiếm việc làm sau khi ra trường, mặt khác các ngành thuộc lĩnh vực này cũng không phong phú, đa dạng cho lắm để các em có thể lực chọn.

            Bởi thế, đa số các em có học lực từ yếu đến trung bình ít có khả năng tự học, tự phấn đấu trong học tập, không chịu học bài, làm bài khi đến lớp. Nhiều em chưa xác định được rõ ràng mục đích, động cơ trong học tập. Một số em bị cuốn hút theo những trò chơi hiện đại như đánh điện tử, chơi games, chat..nên đã xao nhãng việc học tập, lỗ hỏng về kiến thức ngày càng nhiều.

            Một số em lại thể hiện việc học lệch, chỉ chú trọng các môn tự nhiên. Có khi đến lớp nhiều em không thuộc thơ, không đọc trước tác phẩm nên không nắm được nội dung cốt lõi, hệ thống các nhân vật. Nếu giáo viên quản lí lớp lỏng lẻo, một số sẽ lợi dung cơ hội trong quá trình thảo luận nhóm để thư giãn, cười đùa, nói chuyện riêng. Các trường hợp này thường không có chính kiến, khi được gọi lên trình bày vấn đề lúng túng, phải dựa dẫm vào kết quả của bạn lâu ngày sức ỳ càng lớn.

   Từ đó, Vấn đề vận dụng những kiến thức lịch sử, xã hội, tích hợp kiến thức liên môn về lịch sử, địa lí, giáo dục các kĩ năng sống, kiến thức văn hóa, môi trường, đạo đức.. và thực tiễn đời sống để nâng cao nhận thức (kiến thức và ý thức học tập) cho người học là cấp thiết.

  2. Về phía giáo viên:

       Thấy học sinh có thái độ, nhận thức như vậy, một số giáo viên cũng cảm thấy chán nản, không thực sự tâm huyết trong công tác đầu tư soạn giảng. Số ít vấn giữ nếp suy nghĩ cũ, không chú trọng đến việc đổi mới phương pháp, vẫn còn hiện tượng thầy đọc, trò chép.

      Giáo viên dạy chưa thất sự hấp dẫn, chưa hay thì làm sao học sinh yêu thích môn Văn được? Một số giáo viên lại quan niệm miễn là có đổi mới nên trong một tiết học có khi thảo luận vô tội vạ nên chưa thật sự đạt được kết quả như mong muốn. Hoặc do chuẩn bị bài chưa chu đáo nên tình huống giáo viên nêu ra chưa thật sự phù hợp vấn đề nào cũng có thể thảo luận được nên đã mất đi tính giáo dục học sinh. 

       Từ thực trạng ấy, thiết nghĩ mỗi giáo viên của chúng ta trong quá trình hoà nhập vào sự nghiệp giáo dục mới trong bối cảnh đất nước bước vào  công cuộc công nghiệp hoá, hiện đại hoá, cần trang bị cho bản thân nguồn kiến thức phong phú, phương pháp linh hoạt, sáng tạo và chiêm nghiệm, đúc kết những giải pháp thật sự phù hợp. Chúng ta giáo dục các kĩ năng sống, nâng cao khả năng vận dụng đời sống xã hội vào văn học, giải quyết tốt các tình huống đặt ra.

  III. GIẢI PHÁP

1.  Tích hợp: Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh. 

   1.1. Cơ sở:

- Tài liệu “ Nội dung tích hợp học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh”  trong môn Ngữ Văn. Môn Ngữ văn ở trường phổ thông có nhiều ưu thế, thuận lợi trong việc tích hợp nội dung bộ môn với việc học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh. Nhiệm vụ giáo dục nội dung tư tưởng và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh cho Học sinh là cần thiết và mang tính khả thi cao trong bối cảnh đổi mới và hội nhập hiện nay. Đầu tiên là tuân thủ những quan điểm của chủ nghĩa Mác – Lênin về tư tưởng Hồ Chí Minh và coi đó là “nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho hành động”.

    - Đạo đức là nền tảng của xã hội.  Giáo dục nội dung tư tưởng và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh như tư tưởng đạo đức có vai trò quan trọng, cần thiết. Chúng ta đang triển khai cuộc vận động “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ chí Minh” để góp phần nâng cao chất lượng giáo dục và đạt mục tiêu giáo dục đề ra.  Muốn thế, giáo viên phải nhận thức, nắm được các yêu cầu, nguyên tắc,  tư tưởng đạo đức Hồ Chí Minh và làm theo đạo đức Hồ Chí Minh trong giai đoạn hiện nay.

   1.2. Lưu ý:  Dựa trên sự tương đồng giữa nội dung bài học Ngữ Văn với nội dung tư tưởng Hồ Chí Minh, đựa trên hiểu biết, kinh nghiệm vốn có của bản thân người học và quá trình đối thoại, tương tác giữa người học với nhau để thực hành, vận dụng linh hoạt vào các tình huống cuộc sống phù hợp với lứa tuổi.

Không làm tăng thêm nội dung, thời lượng dạy học, không phải là đưa thêm các thông tin, kiến thức làm nặng thêm nội dung mà vẫn  đảm bảo được các nội dung và yêu cầu dạy học của môn học.  

   1.3. Nguyên tắc vận dụng: Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ chí Minh tiến hành trên nguyên tắc sau đây: Vận dụng sáng tạo, cụ thể nội dung tư tưởng Hồ Chí Minh trong hoạt động thực tiễn. Liên kết nội dung bài học với nội dung tư tưởng Hồ chí Minh. Nêu kết luận khái quát về nội dung tư tưởng Hồ Chí Minh cần học tập. Phát huy tính tích cực, chủ động sáng tạo của HS trong giáo dục tư tưởng, tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh.

   1.4. Một số bài tích hợp:

    1.4.1. Bài Việt Bắc của Tố Hữu: Khi dạy  ở khổ thơ :

Ở đâu u ám quân thù,

Nhìn lên Việt Bắc: Cụ Hồ sáng soi

Ở đâu đau đớn giống nòi,

Trông về Việt Bắc mà nuôi chí bền.

Mười lăm năm ấy, ai quên

Quê hương Cách mạng dựng nên Cộng hoà”.

Đoạn thơ đã phác họa một cách chân thật, sinh động hình ảnh Bác Hồ trong kháng chiến chống Pháp và tình yêu mến của nhân dân Việt bắc đối với Bác. Nhận xét về đoạn kết nhà thơ Xuân Diệu cho rằng: “Đoạn thơ trên là một bức danh họa và không chỉ hội họa mà cả âm thanh trong trẻo như reo nhạc của suối rừng” .   Tích hợp lối sống giản dị, phong thái ung dung tự tại của Hồ Chí Minh - hình ảnh lãnh tụ Hồ Chí Minh: Ông Ké Cách mạng  giản dị, gần gũi, ung dung tự tại, vượt mọi khó khăn…trong những ngày tháng ở chiến khu Việt Bắc.

Từ tình cảm yêu mến, gắn bó với cảnh và người Việt Bắc từ niềm tin tưởng vững chắc vào sức mạnh của nhân dân dưới sự lãnh đạo của Đảng và Bác Hồ,Tố Hữu vẽ ra viễn cảnh tươi đẹp của Việt Bắc ngày mai trong khung cảnh xây dựng cuộc sống mới hoà bình, phồn vinh. Trong những năm tháng kháng chiến gian lao Việt Bắc là nơi có “cụ Hồ soi sáng”, có “Trung ương, Chính phủ luận bàn việc công để kiên định niềm tin yêu của cả nước đối với Việt Bắc, Tố Hữu lại dùng những câu thơ mang sắc thái ca dao dạt dào những âm hưởng nghĩa tình của hồn thơ dân tộc. Cảm hứng về kháng chiến, về cách mạng gắn liền với cảm hứng ca ngợi lãnh tụ ( Việt Bắc và cụ Hồ là một).

1.4.2. Bài: Tác gia Nguyễn Ái Quốc – Hồ Chí Minh:

Chúng ta lồng ghép về gương sáng Hồ Chí Minh sau mục tiểu sử, quan điểm sáng tác và di sản văn học của Hồ Chí Minh.  Tư tưởng độc lập dân tộc của Người. Tư tưởng độc lập dân tộc và những đóng góp lớn lao về văn chính luận.  Quan điểm sáng tác và những đóng góp lớn lao về văn học nghệ thuật và vẻ đẹp tâm hồn và phẩm chất đạo đức cách mạng của Bác qua các sáng tác văn học nghệ thuật của Người, khâm phục tinh thần đấu tranh Cách Mạng kiên cường, lòng yêu nước, sự say mê lao động, nghệ thuật của Hồ Chí Minh.  Phương pháp tích hợp là liên kết nội dung bài học với nội dung tư tưởng Hồ chí Minh, từ đó, nêu kết luận khái quát về nội dung tư tưởng Hồ Chí Minh cần học tập. Vận dụng những kiến thức về quan điểm sáng tác, phong cách nghệ thuật của Hồ Chí Minh vào việc đọc hiểu văn thơ của Người.

    - Vài nét về tiểu sử: Bảy mươi chín tuổi của Bác là bảy mươi chín mùa xuân tươi đẹp Người đã dâng hiến để làm nên mùa xuân tươi đẹp cho Tổ quốc

   - Quan điểm sáng tác: HCM coi văn học là vũ khí phục vụ đắc lực cho sự nghiệp CM, nhà văn là chiến sĩ trên mặt trận văn hoá.  Hồ Chí Minh coi văn nghệ là một vũ khí chiến đấu lợi hại phụng sự cho sự nghiệp cách mạng: Quan điểm này thể hiện trong hai câu thơ: 

              “Nay ở trong thơ nên có thép,

               Nhà thơ cũng phải biết xung phong”  

                                   (“Cảm tưởng đọc Thiên gia thi”).

    Về sau, trong Thư gửi các hoạ sĩ nhân dịp triển lãm hội hoạ 1951, Người lại khẳng định: “Văn hoá nghệ thuật cũng là một mặt trận, anh chị em là chiến sĩ  trên mặt trận ấy”.   Hồ Chí Minh luôn coi trọng tính chân thật và tính dân tộc của văn chương. Tính chân thật được coi là một thước đo giá trị của văn chương nghệ thuật. Nghệ sĩ nên chú ý phát huy cốt cách dân tộc và đề cao sự sáng tạo, chớ gò bó họ vào khuôn, làm mất vẻ sáng tạo. Khi cầm bút, Hồ Chí Minh luôn xuất phát từ mục đích, đối tượng tiếp nhận để quyết định nội dung và hình thức của tác phẩm. Người luôn đặt câu hỏi: Viết cho ai? (đối tượng), (viết để làm gì? (mục đích); sau đó mới quyết định Viết cái gì? (nội dung) và Viết thế nào? (hình thức).  Tác phẩm văn chương của Bác có giá trị tư tưởng, tình cảm, nội dung thiết thực, có nghệ thuật sinh động đa dạng và mục đích:  “đồng bào ai cũng có cơm ăn áo mặc, ao cũng được học hành”, giải phóng miền Nam thống nhất tổ quốc. Hồ Chí Minh là tấm gương đạo đức, yêu nước, giữ gìn truyền thống văn hóa dân tộc. Quan điểm sáng tác văn học nghệ thuật và những đóng góp lớn lao về văn học nghệ thuật và vẻ đẹp tâm hồn, phẩm chất đạo đức cách mạng của Bác qua sáng tác văn học nghệ thuật của Nguyễn Ái Quốc.

-  Văn chương phải có tính chiến đấu vì bối cảnh phong trào giải phóng dân tộc phát triển mạnh mẽ ở Việt Nam mà nhiều nước trên thế giới.   Văn chương có giá trị thẩm mĩ, tư tưởng, tình cảm, giải trí, tuyên truyền thể hiện cái nhìn và mối quan hệ của người chiến sĩ cộng sản chân chính: kiên cường, luôn phấn đấu vì mục đích giải phóng dân tộc giành độc lập tự do. Di sản văn học lớn lao về tầm vóc tư tưởng, phong phú về thể loại, đa dạng về phong cách nghệ thuật.  Hồ Chí Minh, nhà yêu nước, nhà cách mạng vĩ đại của dân tộc, nhà hoạt động lỗi lạc của phong trào công nhân quốc tế, nhà nghệ sĩ lớn trên nhiều lĩnh vực, danh nhân văn hóa thế giới.

        1.4.3. Bài Tuyên ngôn độc lập của Hồ Chí Minh:

    Chúng ta tích hợp lòng yêu nước và tư tưởng dân tộc về độc lập, tự do và những đóng góp lớn lao về văn chính luận của Bác, hoàn cảnh ra đời. Bản tuyên ngôn vạch trần bản chất xảo quyệt, tàn bạo, man rợ của thực dân Pháp bằng những lí lẽ và sự thật lịch sử không thể chối cãi. Đó là những tội ác về chính trị, kinh tế, văn hóa,…; là những âm mưu thâm độc, chính sách tàn bạo. Sự thật đó có sức mạnh lớn lao, bác bỏ luận điệu của thực dân Pháp về công lao “khai hóa”, quyền “bảo hộ” Đông Dương.  Bản tuyên ngôn là một tác phẩm chính luận đặc sắc. Sức mạnh và tính thuyết phục của tác phẩm được thể hiện chủ yếu ở cách lập luận chặt chẽ, lí lẽ sắc bén, bằng chứng xác thực, ngôn ngữ hùng hồn, đầy cảm xúc,…

Bản tuyên ngôn cũng khẳng định thực tế lịch sử: nhân dân ta nổi dây giành chính quyền, lập nên nước Việt Nam dân chủ Cộng hòa. Những luận điệu khác của các thế lực phản cách mạng quốc tế cũng bị phản bác mạnh mẽ bằng những chứng cớ xác thực, đầy sức thuyết phục. Một văn kiện có giá trị lịch sử to lớn, lời tuyên bố xó bỏ chế độ thực dân, phong kiến, là sự khẳng định quyền tự chủ và vị thế bình đẳng của dân tộc ta trên toàn thế giới, là mốc son lịch sử mở ra kỉ nguyên độc lập, tự do trên đất nước ta, áng văn tâm huyết của HCM, hội tụ vẻ đẹp tư tưởng và tình cảm của Người, đồng thời kết tinh khát vọng cháy bỏng về độc lập, tự do của dân tộc ta.

Tuyên ngôn Độc lập là một văn kiện lịch sử vô giá tuyên bố trước quốc dân đồng bào và thế giới về quyền tự do, độc lập của dân tộc Việt Nam và khẳng định quyết tâm bảo vệ nền độc lập, tự do ấy.  Kết tinh lí tưởng đấu giải phóng dân tộc và tinh thần yêu chuộng độc lập, tự do. Là một áng văn chính luận mẫu mực với lập luận chặt chẽ thống nhất toàn bài, kế thừa các chân lí lớn của thế giới, tổng kết cả một thời kì lịch sử. Tuyên bố độc lập tuyên bố thoát lí hẳn quan hệ thực dân với Pháp, kêu gọi toàn dân đoàn kết chống lại âm mưu của thực dân Pháp, kêu gọi cộng đồng quốc tế công nhận quyền độc lập, tự do của Việt Nam và khẳng định quyết tâm bảo vệ quyền độc lập, tự do ấy.

  1.4.4. Bài Bác Ơi của Tố Hữu:

Tích hợp tư tưởng đạo đức Hồ Chí Minh: Lí tưởng độc lập dân tộc, sự hi sinh quên mình vì hạnh phúc của dân tộc, tình yêu thương nhân loại, lẽ sống giản dị, đức khiêm tốn, những phẩm chất cao đẹp của Hồ Chí Minh.  Tích hợp lí tưởng độc lập dân tộc, sự hi sinh quên mình vì hạnh phúc dân tộc, tình yêu thương nhân loại, lẽ sống giản dị, đức khiêm tốn…của Hồ Chí Minh. Qua đó, giúp HS thấy được vẻ đẹp của Hồ Chí Minh. Hình tượng Bác Hồ qua lòng biết ơn, công lao trời biển và tấm gương sáng ngời.  Bác chưa bao giờ được thảnh thơi vì “nỗi thương đời”.  Tình thương của Bác gắn liền với lí tưởng và lẽ sống. Yêu nước, lo lắng cho vận mệnh của đất nước. Thương người, thương xót, cảm thông với những người đau khổ bất hạnh.Cả cuộc đời người hi sinh, phấn đấu để đất nước được độc lập, đồng bào được tự do, hạnh phúc.  Cuộc sống giản dị, thanh bạch, cao quý, quên mình vì nhân dân. Khi dạy ở những câu thơ sau:

Ôi, phải chi lòng được thảnh thơi

Năm canh bớt nặng nỗi thương đời

Bác ơi, tim Bác mênh mông thế

Ôm cả non sông mợi kiếp người.

 Bác để tình thương cho chúng con

Một đời thanh bạch, chẳng vàng son

Mong manh áo vải hồn muôn trượng

Hơn tượng đồng phơi những lối mòn…

 Nhớ đôi dép cũ nặng công ơn…

Vững như muôn ngọn dải Trường Sơn.

    2.  GIÁO DỤC MÔI TRƯỜNG TRONG MÔN NGỮ VĂN.

      2.1. CƠ SỞ:

         2.1.1-Một số kiến thức về môi trường:

* Định nghĩa: Môi trường bao gồm các yếu tố tự  nhiên và vật chất nhân tạo bao quanh con người. có ảnh hưởng đến đời sống sản xuất, sự tồn tại và phát triển của con người và sinh vật. Môi trường tự nhiên: Đất, nước, khí quyển, các loại khoáng sản,…

-Vật chất nhân tạo bao quanh con người:Nhà ở, phương tiện đi lại, công viên….

- Môi trường nhà trường: Lớp học, phòng thí nghiệm, nhà xe, sân chơi…

- Môi trường xã hội: Là mối quan hệ giữa con người và con người thể hiện  bằng thẻ chế, luật lệ, cam kết…

- Môi trường sống của con người bao gồm môi trường tự nhiện và môi trường xã hội.

  * Các chức năng cơ bản của môi trường:

- Môi trường là không gian sinh sống cho con người và thế giới sinh vật.

- Môi trường là nơi chứa đựng các tài nguyên cấn thiết cho đời sống sán xuất của con người.

- Môi trường chứa đựng các chất thải của đời sống và sản xuất.

- Môi trường là nơi lưu trữ và cung cấp thông tin cho con người.

* Thành phần của môi trường: Thạch quyển, Thủy quyển, Khí quyển, Sinh quyển.

     2.1.2.Tình hình môi trường hiện nay:

      a. Đất đai: Diện tích bình quân đầu người ngày càng giảm, diện tích đất và chất lượng đất canh tác không ngừng giảm.( do: Xói mòn, sa mạc hóa, mặn hóa, phèn hóa, lầy hóa, bị ô nhiễm trong quá trình canh tác…)

      b. Rừng: Hiện nay độ che phủ của rừng đang ngày càng hẹp dần.(ô nhiễm, phá rừng…)

      c. Nước: Hiện nay nhiều quốc gia rơi vào tình trạng thiếu nước(Do ô nhiễm, do nước thải công nghiệp, nước thải sinh hoạt chưa được xử lí và việc sử dụng hóa chất trong sản xuất…)

     d. Không khí: Bị ô nhiễm không khí do khó, bụi…

     e. Sự đa dạng sinh học: Không còn ở trạng thái cân bằng,nhiều động thực vật bị tuyệt chủng

     f: Chất thải:Cùng với sự phát triển kinh tế, lượng chất thải ngày càng nhiều như chất thải sinh hoạt, chất thải công nghiệp, chất thải nguy hại…

    2.1.3. Một số biện pháp giữ gìn, bảo vệ, cải thiện môi trường xang-sạch- đẹp:

     a. Đẩy mạnh tuyên truyền, giáo dục nâng cao ý thức bảo vệ môi trường.

     b. Tăng cường công tác quản lí nhà nước, tạo cơ sở pháp lí và chính sách.

     c. Đẩy mạnh xã hội hóa và bảo vệ rừng.

     d. Áp dụng các biện pháp kĩ thuật bảo vệ rừng.

     e. Đẩy mạnh nghiên cứu khoa học, ứng dụng công nghệ, đào tạo nguồn nhân lực về môi trường, mở rộng hợp tác quốc tế trong lĩnh vực bảo vệ môi trường.

   2.1.4: Một số vấn đề giáo dục bảo vệ môi trường.

    a. Giáo dục bảo vệ môi trường là sự cần thiết tại các trường học.

    b. Chủ trương của Đảng và Nhà nước là phát triển kinh tế đi đôi với bảo vệ môi trường và phát triển xã hội, đảm bảo bền vững quốc gia.

    c. Mục tiêu giáo dục trong nhà trường:

- Kiến thức: Giúp HS hiểu Khái niệm môi trường, hệ sinh thái, các thành phần môi trường. quan hệ giữa môi trường và con người. Nguồn tài nguyên, khái thác , sử dụng và phát triển nguồn tài nguyên bền vững. Dân số và môi trường. Sự ô nhiễm và suy thoái của môi trường. Các biện pháp bảo vệ môi trường.

- Thái độ và tình cảm: Có tinh thần yêu quý và tôn trọng thiên nhiên. Có tình yêu quê hương đất nước  và tôn trọng di sản văn hóa. Có thái độ thân thiện với môi trường và ý thức được hoạt động trước vấn đề môi trường nảy sinh. Có ý thức: Quan tâm thường xuyên tới môi trường sống cá nhân,gia đình và cộng đồng. Bảo vệ đa dạng sinh học, bảo vệ rừng, đất đai, nguồn nước không khí…Giữ gìn vệ sinh và an toàn thực phẩm. Ủng  hộ, chủ động tham gia các hoạt động bảo vệ môi trường phê phán hành vi gây hại cho môi trường.

- Kĩ năng: Có kĩ năng phát hiện vấn đề môi trường và ứng xử tích cực với vấn đề môi trường nảy sinh. Có hành động cụ thể bảo vệ môi trường. Tuyên truyền vận động bảo vệ môi trường rong gia đình, nhà trường và cộng đồng.  Có hành động cụ thể bảo vệ môi trường. Tuyên truyền, vận động bảo vệ môi trường trong gia đình, nhà trường và cộng đồng.

 2.2. Nguyên tắc vận dụng tích hợp giáo dục bảo vệ môi trường:

- Không ghép thêm mà chỉ tích hợp vào bộ môn. Mục tiêu, phương pháp nội dung giáo dục bảo vệ môi trường phải phù hợp với mục tiêu đào tạo của từng cấp học

- Phương thức giáo dục: Dựa theo ba mức độ: Mức toàn phần: Mục tiêu, nội dung bài học hoặc chương trình phải hoàn toàn phù hợp với mục tiêu giáo dục ý thức bảo vệ môi trường. Mức bộ phận: Chỉ có một phần bài học có mục tiêu, nội dung giáo dục ý thức bảo vệ môi trường. Mức liên hệ: Có điều kiện liên hệ logic, ngoài ra còn có các hoạt động giáo dục ý thức bảo vệ môi trường ngoài giờ lên lớp như: trồng cây, tham quan, khảo sát, thi điều tra và tìm hiểu môi trường

 2.3. LƯU Ý:

- Chỉ tích hợp các bài có sự liên quan đến môi trường, không tích hợp tràn lan, không tích hợp các bài không liên  quan hoặc ít liên quan tới môi trường, đàm bào khai thác nội dung giáo dục bảo vệ môi trường một cách tự nhiên hợp lí và đạt hiệu quả cao.

- Đảm bảo được đặc trưng bộ môn, không biến giờ học thành giờ phổ biến giáo dục bảo vệ môi trường, giáo dục môi trường chỉ là nội dung tích hợp một cách tự nhiên, hòa đồng với kiến thức chuyên môn.

- Không làm tăng nội dung học tập dẫn đến quá tải. Các phương tiện về môi trường cấn nghiên cứu kĩ, chọn lọc cẩn thẩn và gia công về cách thức dẫn dắt liên hệ đảm bảo cho học sinh vửa nắm vững  kiến thức chuyên môn, vừa tăng thêm kiến thức về moi trường, có ý thức giữ gìn bảo vệ và truyên truyền cho mọi  người về ý thức bảo vệ môi trương.

- Chia nhỏ, rải đều vấn đề môi trường vào các bài hợp lí. Những vấn đề bảo vệ môi trường, chống ô nhiễm môi trường ở mỗi môn học chỉ ở một khía cạnh mà thôi. Đảm bảo tính hấp dẫn của các hoạt động thực tiễn về môi trường.Tạo sân chơi, sáng tác, tham quan tập thể…

2.4. CÁC BÀI TÍCH HỢP:

  2.4.1. NGỮ VĂN 10

- Ca dao than thân yêu thương tình nghĩa:  Học sinh sưu tầm các câu ca dao có liên quan đến môi trường.

- Dạy bài Nhàn-Nguyễn Bỉnh Khiêm, liên hệ tới lối sống hòa hợp với tự nhiên.

- Viết quảng cáo: Mẫu băng rôn quảng cáo kêu gọi bảo vệ môi trường.

  2.4.2. NGỮ VĂN 11

- Chạy giặc-Nguyễn Đình Chiểu: Chiến tranh đã hủy hoại môi trường sồng.

- Bài ca  phong cảnh Hương Sơn –Chu Mạnh Chinh: Môi trường trong lành của tại Hương Sơn.

- Chí Phèo-Nam Cao: Môi trường thiếu tình thương ở làng Vũ Đại.

  2.4.3. NGỮ VĂN 12

- Người lái đò sông Đà: Sự phong phú về tài nguyên và phong cảnh của thiên nhiên Tây Bắc.

- Ai đã đặt tên cho dòng sông: Ý thức giữ gìn những vẻ đẹp của thiên nhiên.

- Kĩ năng mở bài và kết bài trong bài văn nghị luận: Ra những đề bài liên qua đến môi trường.

      3.  DẠY HỌC TÍCH HỢP KĨ NĂNG SỐNG

        3.1. Cơ sở lí luận

 Trong những năm học gần đây các nội dung tích hợp kĩ năng sống đã được đưa vào một số  môn học và coi đó cũng là một hình thức đổi mới về phương pháp dạy và học. Vậy chúng ta muốn lồng ghép giáo dục kĩ năng sống cho học sinh trong các bài học được tốt thì trước hết bản thân mỗi giáo viên phải hiểu rõ được bản chất của vấn đề. Vậy kĩ năng sống là gì?

            Hiện nay có nhiều quan niệm khác nhau về kĩ năng sống. Theo tổ chức Y tế thế giới (WHO), kĩ năng sống là khả năng để có hành vi thích ứng và tích cực, giúp các cá nhân có thể ứng xử hiệu quả trước các nhu cầu và thách thức của cuộc sống hàng ngày.Theo Quỹ nhi đồng Liên hợp quốc (UNICEF), kĩ năng sống là cách tiếp cận giúp thay đổi hoặc hình thành hành vi mới. Cách tiếp cận này lưu ý đến sự cân bằng về tiếp thu kiến thức, hình thành thái độ và kĩ năng. Còn theo tổ chức văn hóa, khoa học và giáo dục Liên hợp quốc (UNESCO)  lại cho rằng kĩ năng sống gắn với bốn trụ cột của giáo dục, đó là : Học để biết; học làm người, học để sống với người khác, học để làm.

Từ những quan niệm trên đây, có thể thấy kĩ năng sống bao gồm một loạt các kĩ năng  cụ thể, cần thiết cho cuộc sống hàng ngày của con người. Bản chất của kĩ năng sống là kĩ năng  tự quản bản thân và kĩ năng  xã hội cần thiết để cá nhân tự lực trong cuộc sống, học tập và làm việc hiệu quả. Nói cách khác, kĩ năng sống là khả năng làm chủ bản thân của mỗi người, khả năng ứng xử phù hợp với những người khác và với xã hội, khả năng ứng phó tích cực trước các tình huống của cuộc sống. Kĩ năng sống có nhiều tên gọi khác nhau ví dụ: kĩ năng tâm lí xã hội, kĩ năng cá nhân lĩnh hội và tư duy…

Một kĩ năng sống có thể có những tên gọi khác nhau: chẳng hạn : Kĩ năng hợp tác còn gọi là kĩ năng làm việc nhóm. Kĩ năng kiểm soát cảm xúc còn gọi là kĩ năng xử lí cảm xúc, kĩ năng làm chủ cảm xúc, kĩ năng quản lí cảm xúc. Kĩ năng sống không phải tự nhiên mà có  mà phải hình thành trong quá trình học tập, lĩnh hội và rèn luyện trong cuộc sống. Quá trình hình thành kĩ năng sống diễn ra cả trong và ngoài hệ thống giáo dục.Kĩ năng sống vừa mang tính cá nhân, vừa mang tính xã hội. Kĩ năng sống mang tính cá nhân vì đó là khả năng của cá nhân. Kĩ năng sống mang tính xã hội vì nó phụ thuộc vào các giai đoạn phát triển lịch sử xã hội, chịu ảnh hưởng của truyền thống và văn hóa của gia đình, cộng đồng, dân tộc.

Trước bối cảnh đất nước đang trên đà hội nhập  cùng thế giới, theo chúng tôi việc dạy tích hợp kĩ năng sống trong các môn học là vấn đề cấp thiết đối với thế hệ trẻ. Bởi là chủ nhân tương lai của đất nước, nếu không có kĩ năng sống các em sẽ không thể thực hiện tốt trách nhiệm đối với bản thân, gia đình, cộng đồng và đất nước. Là lứa tuổi đang hình thành nhân cách, hiểu biết về xã hội còn thiếu sâu sắc nên các em dễ bị lôi kéo, kích động.Trong bối cảnh hiện nay, thế hệ trẻ thường xuyên chịu những tác động tích cực và tiêu cực, nếu không có kĩ năng sống, các em sẽ dễ dàng bị lôi kéo vào các hành vi tiêu cực, lai căng, lối sống ích kỉ, thực dụng, dễ phát triển lệch lạc về nhân cách…Việc giáo dục kĩ năng sống giúp các em rèn luyện hành vi có trách nhiệm với bản thân, gia đình, cộng đồng, giúp các em có những cách ứng phó tích cực với những tình huống trong đời sống, xây dựng các mối quan hệ tốt đẹp, sống tích cực, chủ động, an toàn và lành mạnh. Không những vậy kĩ năng sống còn góp phần thúc đẩy sự phát triển của xã hội. Là những nhịp cầu giúp con người biến kiến thức thành thái độ, hành vi và thói quen tích cực, lành mạnh, ngăn ngừa các vấn đề xã hội và bảo vệ quyền con người. Mặt khác, giáo dục kĩ năng sống còn nhằm thực hiện yêu cầu đổi mới giáo dục phổ thông, nó trở thành xu thế chung của toàn thế giới. Đảng ta đã xác định con người vừa là mục tiêu, vừa là động lực của sự phát triển xã hội. Để thực hiện thành công sự nghiệp CNH-HĐH đất nước cần phải có những con người lao động mới phát triển toàn diện.

Với đặc trưng môn học về khoa học xã hội và nhân văn, môn Ngữ văn giúp học sinh có được những hiểu biết về xã hội, văn hoá, văn học, lịch sử, đời sống nội tâm của con người.Với tính chất là môn học công cụ, môn Ngữ văn giúp học sinh có năng lực ngôn ngữ để học tập, giao tiếp và nhận thức về xã hội và con người.Với tính chất về giáo dục thẩm:Rõ ràng, môn Ngữ văn là một môn học có những khả năng đặc biệt trong việc giáo dục kĩ năng sống cho học sinh và việc lồng ghép tích hợp được thể hiện ở cả ba phân môn: Tiếng việt; đọc văn và làm văn.

Trong những bài học có nội dung tích hợp kĩ năng sống giáo viên cần phải bám sát những mục tiêu giáo dục kĩ năng sống, đồng thời đảm bảo mạch kiến thức – kĩ năng của giờ dạy Ngữ văn. Khi lồng ghép tích hợp cần nhẹ nhàng, uyển chuyển, không gượng ép.Chúng ta có thể tiếp cận giáo dục kĩ năng sống  thông qua nội dung và  những phương pháp dạy học tích cực,phát huy tính  chủ động, tích cực của học sinh phù hợp với đặc điểm từng lớp học, chú ý rèn luyện kĩ năng vận dụng kiến thức vào thực tiễn, tác động đến tình cảm, đem lại niềm vui hứng thú cho người học.

            Nhưng dù tiếp cận giáo dục kĩ năng sống  theo cách nào cũng cần phải đảm bảo được mục tiêu của việc giáo dục kĩ năng sống trong môn Ngữ văn . Đó là vừa giúp học sinh tiếp thu được kiến thức cơ bản vừa hình thành ở các em những kĩ năng, thái độ ứng xử phù hợp.

3.2. Thực trạng

           3.2.1. Đối với học sinh

            Dư luận xã hội và các cơ quan quản lý, giáo dục trong thời gian qua rất quan tâm về những biểu hiện về tâm lý, cách ứng xử và giải quyết các vấn đề xảy ra trong cuộc sống một cách thiếu định hướng giáo dục của giới trẻ, trong đó có đối tượng là học sinh, sinh viên trong các cơ sở giáo dục. Hàng loạt các vụ, việc xảy ra có liên quan đến học sinh như bạo lực học đường, vi phạm đạo đức, có hành vi cấu thành tội phạm… khiến chúng ta nhưng người làm công tác giáo dục phải đặt ra câu hỏi “đâu là nguyên nhân dẫn đến tình trạng này ?”. Phải chăng do các em thiếu kiến thức, kỹ năng sống và hòa nhập xã hội.

Trong năm học 2011 -2012 ở trường THPT Thăng Long – Lâm Hà của chúng ta đã xảy ra rất nhiều vụ bạo lực học đường với những mức độ nguy hiểm khác nhau. Trong số các vụ ẩu đả đó có cả học sinh nam và học sinh nữ tham gia. Nguyên nhân chính dẫn đến việc gây gổ đánh nhau trong nhà trường không có gì to tát, chỉ là một ánh mắt, một cái cái nhìn thiếu thiện chí bị quy kết là “ nhìn đểu” , do đố kị, khiêu khích, thích thể hiện cá tính . Như vậy, chúng ta thấy học sinh đã thiếu đi kĩ năng kìm nén cảm xúc cá nhân, thiếu khả năng ứng phó với những tình huống trong cuộc sống. Nguy hại hơn nữa là một số em học sinh nữ thiếu nhận thức, sống buông thả, thiếu kĩ năng tự vệ bản thân nên đành phải làm một “ bà mẹ bất đắc dĩ”, bỏ dở con đường học hành, đánh mất đi cả tương lai của mình khi tuổi đời con quá trẻ.

Bên cạnh những hành vi thiếu văn hóa, một bộ phận học sinh còn có những cử chỉ, lời lẽ thô tục, thậm chí còn cãi lại giáo viên khi các em vị phạm bị thầy cô nhắc nhở nhiều lần. Phải chăng các em còn thiếu kĩ năng giao tiếp, trình bày. Trong học tập, khi thầy cô đưa ra những vấn đề liên quan đến bài học yêu cầu học sinh suy nghĩ, tìm tòi tìm ra cách giải quyết, học sinh rất lúng túng, có em  để giấy trắng, có em ghi được vài dòng  với lối tư duy ngờ nghệch, ngô ghê.

Ví dụ:  Giáo viên đưa ra đề bài “ Trình bày suy nghĩ của em về truyền thống tôn sư trọng đạo”. Đây là một truyền thống tốt đẹp của dân tộc ta từ bao đời nay, thế nhưng học sinh hiện nay không hiểu được ý nghĩa của truyền thống đó. Thay vì học sinh khẳng định ý nghĩa của câu nói  “ phải tôn trọng những người đã dạy dỗ mình” thì các em lại cho rằng “ tôn sư trọng đạo” là “tôn trọng những thầy tu trên chùa”. Khi đọc những câu văn đó khiến cho chúng tôi những người dạy văn không khỏi đau lòng. Bởi học sinh không chịu động não suy nghĩ, thiếu sự tư suy sáng tạo.

 Tóm lại là các em còn thiếu hiểu biết về kĩ năng sống, chưa nhận thức đúng về kĩ năng sống. Mặt khác, người học đang chịu nhiều áp lực về học tập khiến cho không còn nhiều thời gian cho các hoạt động ngoại khóa, hoạt động xã hội. Điều này đã dẫn đến sự “xung đột” giữa nhận thức, thái độ và hành vi với những vấn đề xảy ra trong cuộc sống.  Đồng thời những biến đổi mạnh mẽ về kinh tế - xã hội đã và đang tác động mạnh mẽ đến đời sống của con người. Cùng với đó là những tác động nhiều chiều của các nguồn thông tin khác nhau từ xã hội khiến cho giới trẻ, đặc biệt là học sinh đang đứng trước nhiều thách thức khi hòa nhập xã hội. Hơn nữa ,sự nuông chiều con cái của gia đình cũng đã tạo cho các em có những thói quen xấu khó có thể thay đổi, sửa chữa.

            Như vậy việc giáo dục kĩ năng sống cho học sinh không chỉ là nhiệm vụ của nhà trường mà đó còn là nhiệm vụ chung của gia đình và toàn xã hội.

3.2.2. Đối với giáo viên.

            Mặc dù Bộ giáo dục và đào tạo đã có nội dung  hướng dẫn giảm tải cho môn học  nhưng công tác soạn giảng  của giáo viên hiện nay còn gặp nhiều khó khăn, bởi lượng kiến thức  trong mỗi bài học vẫn còn nặng nề . Hơn nữa áp lực công việc ngày càng lớn,  tính hành chính còn nhiều (chuẩn bị các loại hồ sơ sổ sách…) nên  giáo viên không có nhiều thời gian đầu tư vào công tác soạn giảng, các nội dung tích hợp chưa được chú trọng.  Bên cạnh những giáo viên có ý thức giáo dục kĩ năng sống cho học sinh thông qua bài giảng của mình thì vẫn còn một bộ phận giáo viên khi lồng ghép giáo dục kĩ năng sống  hiệu quả còn chưa cao. Qua những lần kiểm tra giáo án của một số đồng chí giáo viên trong tổ, tôi thấy nội dung tích hợp còn chưa đồng bộ.  Cũng có khi kĩ năng tích hợp được ghi trong mục trọng tâm, kiến thức,kĩ năng nhưng lại không được thể hiện trong nội dung bài giảng bằng hệ thống câu hỏi cụ thể.  Một số đồng chí có thể hiện nội dung giáo dục kĩ năng sống trong giáo án nhưng lại chưa xác định được nội dung tích hợp cũng như là phương pháp tiếp cận, còn mang hình thức chiếu lệ.Trong quá trình thực hiện nội dung tích hợp kĩ năng sống vẫn còn lúng túng.  Bản thân tôi, trong khi dạy bài “ Thao tác lập luận bình luận” hay bài “ Từ ấy” của Tố Hữu, tôi cũng đã chú trọng rèn kĩ năng cho học sinh ( kĩ năng  giao tiếp ,trình bày, kĩ năng ra quyết định , tự nhận thức…) thông qua phương pháp dạy học tích cực như động não, thực hành, thảo luận nhóm… Lúc đầu hiệu quả cũng chưa cao nhưng sau một số tiết luyện tập, củng cố kiến thức, kĩ năng các em cũng đã hình thành được cho mình những kĩ năng nhất định. Các em tự nhận thức giá trị của bản thân về một cuộc sống có lí tưởng đúng đắn, biết phê phán những hiện tượng tiêu cực, quan điểm lệch lạc trong xã hội.

             Từ thực trạng nêu ở trên nêu , thiết nghĩ mỗi giáo viên cần phải suy nghĩ, tìm tòi, sáng tạo, vận dụng linh hoạt các phương pháp dạy học tích cực , thiết kế giáo án giảng dạy phù hợp với mục tiêu bài học để việc giáo dục kĩ năng sống có hiệu quả.

3.2.3. Giải pháp

Đối với học sinh THPT, đây là lứa tuổi có nhiều thay đổi về mặt tâm sinh lý, thích tìm tòi học hỏi cái mới, điều lạ. Có em chưa phân biệt được cái gì tốt, cái gì xấu; điều gì nên làm và điều gì không nên làm nên đôi khi còn lẫn lộn. Do đó, người giáo viên phải dẫn dắt các em vượt qua những khó khăn, thử thách để giúp các em nhận thức sâu sắc về những việc cần thiết phải làm đối với cuộc sống của bản thân và mọi người ở lứa tuổi học sinh.  Ngoài nhiệm vụ giảng dạy bộ môn nên tạo điều kiện, động viên, khuyến khích các em tham gia, hoạt động tốt công tác đội, đoàn và những sân chơi bổ ích, lành mạnh như: câu lạc bộ văn học, toán học, ngoại ngữ, hùng biện… để giúp các em có thêm kiến thức về vốn sống và giáo dục tình yêu quê hương đất nước.  Đống thời, ngoài những giờ lên lớp, người giáo viên cần tranh thủ thời gian tìm hiểu học sinh để kịp thời chia sẻ, giúp đỡ động viên các em vượt qua khó khăn; lắng nghe những tâm tư, nguyện vọng của các em. Trong quá trình tìm hiểu, người giáo viên phải chân thành chủ động xóa bỏ khoảng cách giữa học sinh và giáo viên; luôn lựa chọn những ngôn từ thích hợp, bổ ích nhằm giáo dục các em có thêm kiến thức trong cuộc sống.

            Bên cạnh  đó cũng cần phải có sự phối hợp với phụ huynh học sinh để giáo dục con em được tốt hơn.  Khi soạn giảng cần lựa chọn phương pháp kĩ thuật dạy học tích cực phù hợp với nội dung bài học để  giúp học sinh hình thành được những kĩ năng sống cần thiết.

 Ví dụ 1: khi dạy bài “ Người trong bao” ( Ngữ văn 11 – tập 2) của Sê Khốp giáo viên có thể xây dựng câu hỏi thảo luận nhóm : Theo em, mẫu người nào hiện nay trong lớp học, cũng như ngoài xã hội đang giữ lối sống trong bao? Nhận định của bản thân em về những lối sống ấy?

 Học sinh thảo luận nhóm và tự nhận định vấn đề: trong lớp học đó là những học sinh sống rụt rè, nhút nhát, không dám bày tỏ những quan điểm, suy nghĩ của bản thân; hoặc đây là cách sống thiếu hòa đồng với bạn bè, ngại tiếp xúc, né tránh. Có nhóm bổ sung đây là lối sống tự cô lập mình, ích kỉ, chỉ quan tâm đến bản thân. Ở ngoài xã hội vẫn còn phổ biến những loại người sống rập khuôn, máy móc, trì trệ, lạc hậu .Lối sống “trong bao” cũng có thể là những người vẫn "ếch ngồi đáy giếng", luôn tự thoả mãn, bằng lòng với chính mình…Lối sống này không phù hợp với bối cảnh đất nước đang hội nhập toàn cầu cùng thế giới. Từ đó, giáo viên dễ dàng chốt lại những kiến thức bổ ích cần trang bị cho học sinh qua bài học này.

 Ví dụ 2: Khi dạy bài “Thông điệp nhân ngày thế giới phòng chống AIDS” ( Ngữ văn 12 – tập 2) của Cô – phi- an – nan,  bằng phương pháp dạy học tích cực  như:  Đọc - hiểu, thảo luận, trình bày một phút , thực hành .  Giáo viên có thể cho học sinh thảo luận nhóm- lưu ý khi  cho học sinh thảo luận nhóm phải phân công nhiệm vũ rõ ràng cho từng cá nhân, tổ, nhóm:  Em có những hiểu biết như thế nào về HIV/ AIDS? Tác hại của nó đối với cuộc sống con người như thế nào? Theo em mỗi người cần làm gì để đẩy lùi căn bệnh thế kỉ này?  Hoặc cũng có thể yêu  cầu các em vẽ một bức tranh cổ động .Từ đó học sinh , hình thành được kĩ năng sống

+ Kĩ năng  tự nhận thức:  Học sinh nhận thức được đây là một căn bệnh thế kỷ có tính chất nóng bỏng của toàn cầu. Từ đó, xác định được trách nhiệm của mỗi cá nhân khi tham gia vào cuộc chiến đấu này, có những hành động thiết thực góp phần ngăn chặn sự lây lan của căn bệnh thế kỷ.

+  Kĩ năng giao tiếp/ trình bày ý tưởng: Thảo luận, trao đổi với bạn bè, thầy cô,...về hiện trạng cuộc chiến đấu phòng chống AIDS hiện nay, tác hại, nguy cơ lây lan của căn bệnh thế kỷ và những giải pháp để góp phần vào cuộc chiến này.

+ Kĩ năng ra quyết định: Xác định những việc cá nhân và xã hội cần làm để góp phần vào cuộc chiến đấu chống lại căn bệnh thế kỉ.

Ví dụ 3. Khi dạy bài  “Phong cách ngôn ngữ sinh hoạt” ( Ngữ văn 10- tập 1),  giúp học sinh hình thành kĩ năng tư duy sáng tạo, giao tiếp, ra quyết định lựa chọn ngôn ngữ nói đúng phong cách thông qua phương pháp :Chia nhóm thảo luận, tạo tính huống

Trong tiết học này thay vì giáo viên cho học sinh thảo luận các đoạn hội thoại trong sách giáo khoa thì  giáo viên có thể   đưa ra những tình huống có thật để học sinh có thể trải nghiệm- tự đưa ra cách giải quyết. Ví dụ chúng ta có thể đưa ra tình huống sau:

Tình huống: Giả sử trên đường đi học về có hai nhóm bạn va chạm với nhau

+ Ứng xử 1: Phản ứng gay gắt bằng lời lẽ tục tĩu, thậm chí có thể xảy ra đánh nhau. 

+ Ứng xử 2: Không nói năng gì, hai bên bỏ đi. 

 Sau đó có thể đặt câu hỏi: -   Em có nhận xét gì về ngôn ngữ của các bạn trong ứng xử 1?  Nếu  em gặp phải tình huống này em sẽ chọn cách giao tiếp nào?

Qua bài học, giáo viên  lưu ý học sinh khi sử dụng ngôn ngữ sinh hoạt trong cuộc sống: cần thể hiện sự nhã nhặn, lịch thiệp, có văn hóa, không nên văng tục, chửi bậy.

 Đó là trong tiết Tiếng Việt còn khi dạy phân môn làm văn thì sao chúng ta cũng có thể lồng ghép vào trong bài giảng hoặc phần luyện tập. Ví dụ : Khi dạy bài “ Trình bày một vấn đề” – Ngữ văn 10, chúng ta có thể  đưa ra các vấn đề gần gũi trong đời sống như : Em suy nghĩ gì về tình bạn, tình yêu tuổi học đường? các em làm việc cá nhân tự trình bày suy nghĩ của mình từ đó các em rút ra bài học cho bản thân.

Hoặc trong tiết học có ứng dụng công nghệ thông tin nên trình chiếu một vài đoạn phim, ảnh – phù hợp với nội dung bài học có  nội dung thiết thực về truyền thống văn hóa, lịch sử cách mạng… thông qua đó nhằm rèn luyện kỹ năng sống cho học sinh.

 Ví dụ 4 : Khi dạy bài “ Nhìn về vốn văn hóa dân tộc” ( Ngữ văn 12 – tập 2)  của Trần Đình Hượu, chúng ta có thể trình chiếu một số hình ảnh thể hiện truyền thống văn hóa của người Việt như: hình ảnh chiếc áo dài, hình ảnh trầu cau, hình ảnh về lễ hội…. Từ đó  giúp học sinh hiểu được truyền thống văn hóa tốt đẹp của dân tộc. Đồng thời tự nhân thức được vai trò trách nhiệm của mình trong việc bảo tồn các giá trị văn hóa đó.

 Hay khi dạy bài” Số phận con người” ( Ngữ văn 12 – tập 2) của Sô Lô Khốp, thông qua việc trình chiếu một số hình ảnh liên quan đến chiến tranh, những sự kiện liên quan đến cuộc đời số phận của nhân vật Xô cô lốp. Giáo viên đặt câu hỏi : Qua tìm hiểu về cuộc đời, tính cách của một người lính Nga kiên cường, em rút ra bài học gì cho bản thân? – Học sinh trình bày 1 phút: Học sinh có thể trả lời: sống làm chủ bản thân, có bản lĩnh, nghị lực để vượt qua những thử thách trong cuộc sống.

Cũng có  thể lồng ghép giáo dục  kĩ năng sống cho học sinh bằng cách kể một câu chuyện liên quan đến đạo đức, tư tưởng,lối sống để các em tự trải nghiệm, tự rút ra bài học nhân sinh cho bản thân.

             Sau khi giáo viên xác định được những kĩ năng sống cơ bản cùng với các phương pháp dạy học phù hợp sẽ tiến hành soạn một bài giáo dục kĩ năng sống theo bốn bước . Khám pháà kết nốià Luyện tập à vận dụng.  Bố cục của một giáo án  dạy tích hợp kĩ năng sống  vẫn phải tuân thủ theo quy định của Sở giáo dục: có mục tiêu cần đạt, trọng tâm kiến thức, kĩ năng, thái độ( theo chuẩn kiến thức – kĩ năng) và tiến trình bài dạy

     4. SỬ DỤNG TÍCH HỢP KIẾNTHỨC VĂN HÓA LỊCH SỬ VÀ KIẾN  THỨC CÁC BỘ MÔN KHÁC VÀO GIẢNG DẠY BỘ MÔN NGỮ VĂN

      4.1. Cơ sở lý luận

Một trong những lí do khiến nhiều học sinh không mặn mà với môn Văn học như hiện nay vì khoảng cách lịch sử văn giữa thời đại tác phẩm được sinh ra với thời đại học sinh sống là quá lớn. Chính vì vậy , giáo viên phải không ngừng đổi mới phương pháp dạy học ở môn học này. Để mỗi giờ học Văn không trở nên nhàm chám, đơn điệu giáo viên có thể tích hợp kiến thức văn hoá lịch sử trong dạy môn Văn học.

             Việc  giúp người học nhận thức được tác phẩm văn học trong môi trường văn hóa- lịch sử sản sinh ra nó hay trong môi trường diễn xướng của nó; thấy được mối quan hệ mật thiết giữa văn học và lịch sử phát sinh; văn học với các hình thái ý thức xã hội khác đồng thời khắc phục được tính tản mạn trong kiến thức văn hóa của học sinh. 

            Thực tế cho thấy, những khác biệt về kinh nghiệm sống, văn hóa, giáo dục, cách dùng ngôn ngữ, thể loại…khiến cho tầm đón nhận của học sinh so với tầm đón nhận tác phẩm yêu cầu có độ vênh khá lớn.  Học sinh không hiểu do đó không thể yêu thích những tác phẩm này dù các em vẫn biết đó là những tác phẩm đỉnh cao của văn học dân tộc. Vì vậy việc đưa học sinh về môi trường văn hóa của thời đại, kéo tầm đón nhận của các em về trùng khít với yêu cầu tầm đón nhận của tác phẩm là việc cần thiết cả về mặt khoa học lẫn giáo dục. “Vì thế, trong quá trình dạy học,  việc tham khảo tài liệu từ các lĩnh vực khác có vai trò quan trọng trong việc khôi phục, tái hiện hình ảnh quá khứ. Tài liệu tham khảo giúp người học xây dựng được tầm đón nhận phù hợp với văn bản”

Ngoài ra, việc sử dụng tài liệu liên môn còn giúp người học có thêm cơ sở để hiểu rõ quy luật phát triển của văn học, hình thành củng cố nhiều phương pháp nghiên cứu văn học. Tài liệu tham khảo về văn hóa lịch sử là phương tiện có hiệu quả để giúp giáo viên làm rõ nội dung sách giáo khoa, kích thích sự hứng thú học tập của học sinh, góp phần nâng cao chất lượng dạy và học Ngữ văn.

      4.2.Thực tiễn

       4.2.1. Sử dụng tư liệu văn hóa lịch sử

Sử dụng phương pháp này, học sinh sẽ tiếp cận kiến thức Văn học qua tư liệu lịch sử, đặt tác giả, tác phẩm vào môi trường ra đời của nó để học sinh đánh giá được những đóng góp cũng như hạn chế của tác giả về nội dung tư tưởng hay nghệ thuật thể hiện.

Trong các bài học ở sách giáo khoa, các nhà biên soạn đã có phần tiểu dẫn trình bày về tác giả, hoàn cảnh ra đời tác phẩm để giáo viên khai thác tuy nhiên vẫn cần có sự tham khảo thêm sử liệu để làm rõ yếu tố thời đại.

            Ví dụ: Chẳng hạn như bài Vịnh khoa thi hương của Trần Tế Xương. Giáo viên giới thiệu cách thức tổ chức các kì thi trong nền giáo dục dưới chế độ phong kiến triều Nguyễn: Thi Hương, thi Hội và thi Đình. Những hiểu biết này sẽ giúp học sinh hiểu nội dung câu thơ thứ nhất thông báo thông lệ của việc tổ chức kì thi Hương.

Ngoài ra, giáo viên cho học sinh biết thông tin năm Đinh Dậu thực dân Pháp đã chiếm thành Hà Nội, do đó trường thi Hà Nội bị đóng cửa, các thí sinh Hà Nội về thi ở Nam Định.

Câu thơ thứ hai không chỉ thông báo một sự kiện gắn với lịch sử mà còn là kết quả quan sát của tác giả về sự lộn xộn, nhốn nháo của trường thi cũng là hình ảnh xã hội đang suy thoái. 

Từ sự quan sát, miêu tả khách quan ấy, người đọc cảm nhận nỗi đau đời thấm thía của nhà thơ yêu nước.

      4.2.2. Sử dụng tư liệu về các tác phẩm nghệ thuật

Hội họa, kiến trúc, sân khấu, điêu khắc, ca nhạc, phim ảnh…là kết quả sáng tạo của xã hội loài người. Một hình ảnh nghệ thuật giúp người học sử dụng trí tưởng tượng của mình tập trung vào những điểm quan trọng. Giáo viên bổ sung hình ảnh tư liệu thuộc các lĩnh vực nói trên vào bài giảng để học sinh có vốn văn hóa rộng khi tiếp nhận. Bản thân văn học có mối quan hệ mật thiết với các loại hình nghệ thuật khác.

Học sinh tiếp nhận kiến thức văn học qua tranh ảnh, đồ dùng trực quan kết hợp với bài viết sách giáo khoa và các tài liệu tham khảo sẽ nhớ lâu và hứng thú hơn.

Để việc khai thác nguồn tư liệu này có hiệu quả, phát huy tính tích cực của học sinh, giáo viên cần nghiên cứu kỹ mục tiêu và nội dung của từng tư liệu trong bài học, tư liệu thuyết minh hình ảnh.  Ngày nay, với sự hỗ trợ của công nghệ thông tin, giáo viên trình chiếu kênh hình sẽ có ưu thế hơn vì học sinh được trực quan với hình ảnh rõ, kích thước lớn, màu sắc sinh động và ấn tượng hơn.

Ví dụ, giáo viên dạy bài Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc của Nguyễn Đình Chiểu, ngoài kiến thức lịch sử về trận tấn công đồn Cần Giuộc năm 1861, nhằm giúp học sinh hiểu hình tượng người nông dân nghĩa sĩ trong tác phẩm là hình tượng đám đông bước ra từ thực tế đời sống chứ không còn là hình ảnh ước lệ tượng trưng thì giáo viên nên kết hợp cho học sinh xem tranh vẽ trận Cần Giuộc, xem hình ảnh về việc xây dựng đài kỉ niệm những nghĩa sĩ Cần Giuộc đã được khởi công vào năm 2011.

phải có sự tích hợp cả ngôn ngữ, văn hóa mới có thể lý giải được ý nghĩa của chúng.

          4.2.3. Sử dụng tài liệu địa lý và ngôn ngữ học

Những hiểu biết về điều kiện tự nhiên, khí hậu, địa hình của một khu vực đóng vai trò vô cùng quan trọng để học sinh hiểu thêm không gian nghệ thuật trong tác phẩm. 

Chẳng hạn, tìm hiểu không gian bãi cát dài trong Bài ca ngắn đi trên bãi cát của Cao Bá Quát không thể không biết đến những vùng cồn cát trắng trên dải đất miền Trung trên hành trình vào Huế thi Hội của ông. 

Vùng cát trắng sau này gợi những ám ảnh trong câu thơ của Tố Hữu “Chang chang cồn cát năng trưa Quảng Bình” (Mẹ Suốt).

Mặt khác Văn học là nghệ thuật của ngôn từ do đó dạy học văn không thể không gắn bó mật thiết với các kiến thức ngôn ngữ học nhất là bộ phận văn học trung đại. 

         4.2.4. Sử dụng tài liệu các lĩnh vực văn hóa khác

Việc vận dụng kiến thức liên môn của giáo dục công dân, giáo dục kĩ năng sống, kiến thức dân tộc học, triết học,….góp phần làm sáng rõ khi lí giải các khái niệm hay tư tưởng tác phẩm. Để làm sáng tỏ vẻ đẹp tảo tần nhẫn nhịn, hy sinh của bà Tú và hiểu đúng con người Tú Xương trong bài thơ Thương vợ, giáo viên nên giới thiệu cho học sinh về mô hình gia đình nho giáo truyền thống. Đây là kiểu gia đình không coi trong sản nghiệp, chỉ coi trọng danh vị. Người vợ giữ vai trò trụ cột nuôi sống cả nhà còn người chồng miệt mài đèn sách với hi vọng đỗ đạt làm thay đổi vận mệnh gia đình. 

Vào thời của Tú Xương, nho giáo suy tàn, mô hình gia đình trên lung lay, cuộc sống ở Vị Xuyên trong giai đoạn đô thị hóa càng phức tạp nên bà Tú không thể ở yên trong không gian gia đình với “Bên anh đọc sách, bên nàng quay tơ” được nữa mà bị ném ra giữa chợ đời phồn tạp để bươn chải.

Lối sống trọng danh vị của nhà nho khiến những ông tú gần như không tham gia vào hoạt động lao động chân tay, sản xuất vật chất. Thế nên, ông đành cay đắng mà bất lực nhìn vợ tảo tần, cực nhọc. Cũng từ bài thơ này, giáo viên tích hợp kiến thức giáo dục kĩ năng sống: Biết yêu thương gia đình, trân trọng biết ơn sự hi sinh và tình yêu thương của những người thân trong gia đình. Có thể nói, tích hợp kiến thức liên môn trong dạy học nói chung và dạy Văn học nói riêng là cần thiết. Mục đích tích hợp trước tiên để học sinh hiểu đúng, hiểu sâu kiến thứ

trong bài học đồng thời mở rộng vốn hiểu biết những lĩnh vực khác liên quan đến bài học.

    IV. NGUYÊN TẮC  VẬN DỤNG VÀO DẠY HỌC   

“Tích hợp phải tuân thủ nguyên tắc: Chọn lọc, phù hợp, vừa đủ. Chọn lọc những kiến thức thật cần thiết để tích hợp nhằm giúp học sinh lấy đó làm phương tiện khám phá, lĩnh hội kiến thức mới trong bài. Phù hợp trình độ nhận thức, tâm sinh lí của học sinh; giáo viên tránh biến giờ học thành phô diễn sự uyên bác của mình.

Không vì tích hợp mà làm bài học nặng nề kiến thức, quá tải cho học sinh hoặc giáo viên tham tích hợp nên bỏ qua kiến thức cơ bản học sinh cần đạt trong chính tiết học đó” .

     V. GIÁO ÁN MINH HỌA:  

        1.  Bài - Đọc văn:  CHIẾC THUYỀN NGOÀI XA

                                               Trích - Nguyễn Minh Châu

A. MỨC ĐỘ CẦN ĐẠT :

- Hiểu được quan niệm của nhà văn về mối quan hệ giữa cuộc đời và nghệ thuật, về cách nhìn đời và nhìn người trong cuộc sống

- Thấy được những nét đặc sắc trong nghệ thuật của tác phẩm và bước đầu nhận diện được một số đặc trưng cơ bản của văn xuôi Việt nam sau 1975.

B. TRỌNG TÂM KIẾN THỨC, KĨ NĂNG, THÁI ĐỘ:

   1. Kiến thức:  - Những chiêm nghiệm sâu sắc của nhà văn về cuộc đời và nghệ thuật: Phải nhìn nhận cuộc sống và con người đa diện nhiều chiều; nghệ thuật chân chính luôn gắn với cuộc đời, vì cuộc đời.

- Tình huống truyện độc đáo mang ý nghĩa khám phá, phát hiện, về đời sống. Điểm nhìn nghệ thuật đa chiều. Lời văn giản dị mà sâu sắc, dư ba

   2. Kĩ năng:-  Đọc – hiểu truyện ngắn hiện đại.

- Tích hợp kĩ năng sống: kĩ năng tự nhận thức về cách tiếp cận và thể hiện hiện thực trong tác phẩm, về cảm hứng thế sự và tấm lòng đầy ưu tư, trăn trở của nhà văn trước cuộc đời, qua đó rút ra bài học nhận thức về cuộc sống của mỗi cá nhân; kĩ năng tư duy sáng tạo: phân tích, bình luận về cá tính sắc nét và cách đặ vấn đề của nhà văn trong tác phẩm

-Tích hợp giáo dục ý thức bảo vệ môi trường: người nghệ sĩ đã phát hiện ra một “ cảnh đắt trời cho”  trên mặt biển mờ sương, một vẻ đẹp mà cả đời bấm máy có lẽ anh chỉ gặp một lần: “ trước mặt tôi ……… trong ngần của tâm hồn” đó là cảnh chiếc thuyền lưới vó ẩn hiện trong biển sớm mờ sương có pha đôi chút màu hồng hồng do ánh mặt trời chiếu vào….

Chúng ta phải có ý thức để giữ gìn nhưng kiệt tác nghệ thuật mà thiên nhiên ban tặng.

    3.Thái độ:  Từ những chiêm nghiệm sâu sắc của nhà văn về nghệ thuật và cuộc đời HS tự rút ra bài học nhận thức về cuộc sống của mỗi cá nhân.

C. PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC: Diễn giảng,phát vấn kết hợp trao đổi, thảo luận,

D. TIẾN TRÌNH TỔ CHỨC DẠY HỌC:

   1. Kiểm tra sĩ số:

   2. Kiểm tra bài cũ. Cảm nhận của em về nhân vật Chiến? Hoặc Trình bày nét đặc sắc về nghệ thuật và ý nghĩa của văn bản?

   3. Bài mới:  Lời vào bài: -"Nguyễn Minh Châu thuộc trong số những nhà văn mở đường tinh anh và tài năng nhất cảu văn học ta hiện nay" (Nguyên Ngọc).

- Sự tinh anh và tài năng ấy thể hiện trước hết ở quá trình đổi mới tư duy nghệ thuật. Trong văn học cách mạng trước năm 1975. thước đo giá trị chủ yếu của nhân cách là sự cống hiến, hy sinh cho Cách mạng Sau năm 1975. văn chương trở về với thời kỳ đổi mới đi sâu khám phá sự thật đời sống bình diện đạo đức thế sự. Khi làm cho người đọc ý thức về sự thật, có khả năng nhìn thẳng vào sự thật, phát hiện nhiều mối quan hệ xã hội phức tạp chằng chịt, thì văn chương đã ít nhiều đáp ứng được cái nhu cầu nhìn nhận và hoàn thiện nhiều mặt của nhân cách con người. Truyện ngắn “Chiếc thuyền ngoài xa” của  Nguyễn Minh Châu sẽ giúp chúng ta hiểu rõ hơn hướng phát hiện đười sống và con người mới mẻ này.

Hoạt động của giáo viên và học sinh

Nội dung bài dạy

TIẾT 1

- GV: Em hãy trình bày những hiểu biết của mình về tác giả và tác phẩm?

- HS trình bày

- Gv giảng chốt ý

-  GV: Thời điểm tác phẩm ra đời khi đất nước đã thoát khỏi chiến tranh, bước vào giai đoạn xây dựng và phát triển kinh tế. Dấu ấn lịch sử ấy đã mở ra cho văn học những tiền đề mới. Nhu cầu dân chủ hóa xã hội trở thành mối quan tâm hàng đầu và là nỗi trăn trở suy tư của giới văn nghệ sĩ

- Gv hướng dẫn HS đọc – hiểu văn bản

- GV: Theo em đoạn trích có thể chia làm mấy phần? Nội dung từng phần là gì?

- HS trả lời

- Gv chốt ý.

-Truyện chia thành hia đoạn lớn:

   +Đoạn 1: Từ đầu đến “chiếc thuyền với gió đã biến mất”: hai phát hiện của người nghệ sĩ nhiếp ảnh.

    +Đoạn 2: Còn lại: Câu chuyện của hai người đàn bà làng chài.

- Gv tích hợp giáo dục ý thức  bảo vệ môi trường:

- GV:  Phát hiện thứ nhất của người nghệ sĩ nhiếp ảnh, là phát hiện đầy thơ mộng. Anh đã cảm nhận như thế nào về vẻ đẹp của chiếc thuyền ngoài xa trên biển sớm mù sương?

- Học sinh thảo luận, cử đại diện trình bày trước lớp.

Từ đó mỗi người trong chúng ta phải có những hành động thiết thực để bảo vệ môi trưởng.

 

- GV:   Phát hiện thứ hai của người nghệ sĩ nhiếp ảnh mang đầy nghịch lí. Anh đã chứng kiến và có thái độ như thế nào trước những gì diễn ra ở gia đình thuyền chài?

- HS trả lời

- HS khác bổ sung

- Gv giảng chốt ý

+ Nếu ở phát hiện thứ nhất của người nghệ sĩ là một vẻ đẹp thơ mộng, khoảnh khắc ấy mang lại cho người nghệ sĩ một niềm hạnh phúc tràn ngập trong tâm hồn, khi chứng kiến vẻ đẹp ấy anh đã chiêm nghiệm” bản thân cái đẹp chính là đạo đức. vậy mà đằng sau vẻ đẹp ấy anh lại phát hiện ra một cảnh tượng bất ngờ, trớ trêu.

- Gv tích hợp kĩ năng sống:

- GV:   em có nhận xét gì về cách thể hiện cảm hứng thế sự của nhà văn Nguyễn Minh Châu? Qua hai phát hiện của người nghệ sĩ, nhà văn đã phát chỉ ra điều gì? Và đưa ra lời khuyên như thế nào đối với văn nghệ sĩ?

- HS trả lời và bổ sung

- Gv giảng chốt ý

 

TIẾT 2

 

 

 

- GV: Câu chuyện của người đàn bà hàng chài ở tòa án huyện nói lên điều gì?

- HS thảo luận

- HS trình bày

- Gv giảng chốt ý

 

- GV:  Qua câu chuyện về cuộc đời của người đàn bà hàng chài và cách ứng xử của các nhân vật, nhà văn muốn gửi tới người đọc thông điệp gì?

 

- HS trình bày

- Gv giảng chốt ý

 

 

- GV: Cảm nhận của em về tấm ảnh được chọn trong bộ lịch năm ấy?

- Theo em tấm ảnh ấy có ý nghĩa gì?

- HS trao đổi nhanh

- HS trình bày

- Gv giảng chốt ý

- Gv tích hợp kĩ năng sống:

 

- GV: Qua tìm hiểu văn bản em hãy cho biết những nét đặc sắc về nghệ thuật và nội dung ý nghĩa của văn bản?

 

- HS thảo luận 2 phút

- HS trình bày

- Gv chốt ý.

- Gv hướng dẫn HS tự học.

 

I. GIỚI THIỆU CHUNG

1. Tác giả.

- Nguyễn Minh Châu ( 1930 – 1989). Trước năm 1975 là ngòi bút sử thi có thiên hướng trữ tình lãng mạn

- Từ đầu thập kỉ 80 của thế kỉ XX chuyển hẳn sang  cảm hứng thế sự với những vấn đề đạo đức và triết lí nhân sinh, thuộc trong số những “người mở đường tinh anh và tài năng” ( Nguyên Ngọc) nhất của văn học Việt Nam thời kì đổi mới.

2. Tác phẩm.

  - “Chiếc thuyền ngoài xa”  được viết năm 1983, là truyện ngắn in đậm phong cách tự sự - triết lí của Nguyễn Minh Châu. Lúc đầu được in trong tập “Bến quê” xuất bản năm 1985, sau đó được in trong Nguyễn Minh Châu toàn tập, tập 3 – NXB Văn học, 2001. Với ngôn từ dung dị đời thường, truyện kế về chuyến đi thực tế của một nghệ sĩ nhiếp ảnh, qua đó thể hiện những chiêm nghiệm sâu sắc của nhà văn về nghệ thuật và cuộc đời.

- Tiêu biểu cho xu hướng chung của văn học Việt Nam thời kì đổi mới: hướng nội, khai thác sâu sắc số phận cá nhân và thân phận con người trong cuộc sống đời thường.

II. ĐỌC HIỂU – VĂN BẢN

1. Đọc

2. Tìm hiểu văn bản

2.1. Hai phát hiện của người nghệ sĩ nhiếp ảnh.

- Phát hiện thứ nhất

+  Để có tấm lịch nghệ thuật về thuyền và biển à Phùng đã tới một vùng biển từng là chiến trường cũ của anh, đã dự tính bố cục, đã phục kích mấy buổi sáng để chộp được một cảnh thất ưng ý

+ Đôi mắt nhà nghề của người nghệ sĩ đã phát hiện ra một “ cảnh đắt trời cho”  trên mặt biển mờ sương, một vẻ đẹp mà cả đời bấm máy có lẽ anh chỉ gặp một lần: “ trước mặt tôi ……… trong ngần của tâm hồn” đó là cảnh chiếc thuyền lưới vó ẩn hiện trong biển sớm mờ sương có pha đôi chút màu hồng hồng do ánh mặt trời chiếu vào….

+ Với người nghệ sĩ, khung cảnh đó ẩn chứa “ chân lí của sự hoàn thiện”,” Bản thấn cái đẹp chính là đạo đức” làm dấy lên trong Phùng những xúc cảm thẩm mĩ, khiến tâm hồn anh như được gột rửa, thanh lọc

=> một phát hiện đầy thơ mộng

- Phát hiện thứ hai.

+ Một cảnh tượng phi thẩm mĩ ( một người đàn bà xấu xí,mệt mỏi; một gã đàn ông thô kệch, dữ dằn, độc ác); phi nhân tính (người chồng đánh vợ một cách thô bạo, đứa con thương mẹ đánh lại cha). Trước những cảnh tượng ấy trong anh trào lên một cảm xúc ngỡ ngàng trước một hiện thực “ như trong câu chuyện cổ đầy quái đản”  ,Phùng “ ngơ ngác” không tin vào mắt mình.” Há mốm ra mà nhìn”

=> Qua hai phát hiện của người nghệ sĩ, nhà văn chỉ ra: cuộc đời chứa đựng nhiều nghịch lí, mâu thuẫn; không thể đánh giá con người, cuộc sống ở dáng vẻ bên ngoài mà phải đi sâu tìm hiểu, phát hiện bản chất bên trong

2.2. Câu chuyện của người đàn bà hàng chài ở tòa án huyện

- Đây là câu chuyện về cuộc đời nhiều bí ẩn và éo le của một người đàn bà hàng chài nghèo khổ, lam lũ.

- Câu chuyện đã giúp nghệ sĩ Phùng hiểu về :

+  Người đàn bà hàng chài

một người phụ nữ nghèo khổ, nhẫn nhục, bị chồng thường xuyên đánh đập hành hạ” ba ngày một trận nhẹ, năm ngày một trận nặng”; “ không hề kêu …… chạy trốn

·             sống kín đáo, sâu sắc, thấu hiểu lẽ đời, có tâm hồn đẹp đẽ, “Vui nhất là …ăn no”; “ trên thuyền … vui vẻ”; “ Ông trời sinh ra người … khôn lớn”; “ tình thương …. Bên ngoài”

·            giàu đức hi sinh và lòng vị tha.” Đám đàn bà ….. không thể sống cho mình”

+ Người chồng của chị:

·                vốn là một anh con trai hiền lành nhưng cục tính, không bao giờ đánh đập vợ

·                Do hoàn cảnh ( nghèo khổ, túng quẫn, nhiều con) khiến anh trở thành người chồng vũ phu “ bất kể lúc nào thấy khổ quá” là lôi vợ ra đánh coi đó như là một phương cách giải tỏa, nỗi khổ đau, uất ức.

+ Chánh án Đẩu – có lòng tốt, sẵn sàng bảo vệ công lí nhưng kinh nghiệm sống chưa nhiều:

+ Về chính mình

·                Lúc đầu anh cảm thấy bức bối khi nghe người phụ nữ van xin vị chánh án đừng bắt chị phải li hôn với người chồng vũ phu

·                Nghe xong câu chuyện, anh không còn nghĩ rằng người phụ nữ kia cam chịu vì yếu đuối hay tăm tối, ngu dốt

·                Anh nhìn thấy người đan bà từng trải, sắc sảo, yêu thương con vô bờ bến, giàu đức hi sinh

·                Từ ngạc nhiên bất bình vì những hiện tượng ngang trái, phi lí, anh đã cảm thông, chia sẻ và nhận thấy cuộc đời còn chứa đựng nhiều nghịch lí mâu thuẫn.

·                Anh hiểu về chính mình – sẵn sàng làm tất cả vì sự công bằng nhưng lại đơn giản trong cách nhìn nhận, suy nghĩ

=>  Qua câu chuyện về cuộc đời của người đàn bà hàng chài và cách ứng xử của các nhân vật, nhà văn muốn gửi tới người đọc thông điệp: đừng nhìn cuộc đời, con người một cách đơn giản, phiến diện; phải đánh giá các sự việc, hiện tượng trong các mối quan hệ đa diện, nhiều chiều.

2.3. Tấm ảnh được chọn trong “bộ lịch năm ấy”

- Mỗi lần nhìn kĩ vào bức ảnh đen trắng, người nghệ sĩ thấy “ hiện lên cái màu hồng hồng của ánh sương mai”-  ( đó là chất thơ, vẻ đẹp lãng mạn của cuộc đời, cũng là biểu tượng của nghệ thuật)

- Nếu nhìn lâu hơn, bao giờ anh cũng thấy “ người đàn bà ấy đang bước ra khỏi tấm ảnh” – đó là hiện thân của những lam lũ, khốn khó, là sự thật cuộc đời.

- Ý nghĩa: nghệ thuật chân chính không thể tách rời, thoát li cuộc sống. Nghệ thuật chính là cuộc đời và phải vì cuộc đời.

3.Tổng kết

a. Nghệ thuật.

- Tình huống truyện độc đáo, có ý nghĩa khám phá, phát hiện về đời sống.

- Tác giả lựa chọn ngôi kể, điểm nhìn thích hợp, làm cho câu chuyện trở nên gần gũi, chân thực và có tính thuyết phục.

- Ngôn ngữ nhân vật sinh động, phù hợp với tính cách. Lời văn giản dị ,mà sâu sắc, đa nghĩa.

b. Ý nghĩa văn bản.

Chiếc thuyền ngoài xa thể hiện những chiêm nghiệm sâu sắc của nhà văn về nghệ thuật và cuộc đời; người nghệ sĩ cần phải nhìnnha65n cuộc sống và con người một cách toàn diện, sâu sắc. Tác phẩm cũng rung lên hồi chuông báo động về tình trạng bạo lực gia đình và hậu quả khôn lường của nó.

III. HƯỚNG DẪN TỰ HỌC.

- Tìm đọc trọn vẹn tác phẩm

- Phân tích nhận vật người đàn bà hàng chài.

E.Dặn dò: - Chuẩn bị bài mới:  Nội dung và nghệ thuật các bài đọc thêm: Một người Hà Nội; Bắt sấu rừng U Minh Hạ, Mùa lá rụng trong vườn

G. Rút kinh nghiệm:………………………………………………………………………….

   2.  Bài - Đọc văn:                                                                                     

Tuần :                                                                                               Ngày soạn: …………/2014

Tiết :52-53                                                                                      Ngày dạy: …………../2014

                                                                                                                                       

Đọc văn: CHÍ PHÈO – PHẦN TÁC PHẨM

NAM CAO

Đọc thêm: CHA CON NGHĨA NẶNG - HỔ BIỂU CHÁNH

A. MỨC ĐỘ CẦN ĐẠT

-  Nắm được những nét cơ bản về tiểu sử, quan điểm nghệ thuật, các đề tài chính, tư tưởng chủ đạo và phong cách nghệ thuật của Nam Cao

- Hiểu được những giá trị hiện thực và nhân đạo sâu sắc, mới mẻ của tác phẩm qua việc phân tích các nhân vật, đặc biệt là nhân vật Chí Phèo

- Thấy được một số nét nghệ thuật đặc sắc của tác phẩm.

B. TRỌNG TÂM KIẾN THỨC, KĨ NĂNG, THÁI ĐỘ

    1. Kiến thức:  - Tác giả: những đặc điểm chính về quan điểm nghệ thuật; những đề tài chủ yếu; phong cách nghệ thuật của nhà văn.

- Tác phẩm Chí Phèo: + Hình tượng nhân vật Chí Phèo ( những biến đổi về nhân hình, nhân tính sau khi ở tù; nhất là tâm trạng và hành động của chí sau khi gặp Thị Nở cho đến lúc tự sát.)

+ Giá trị hiện thực và nhân đạo sâu sắc, mới mẻ của tác phẩm

+ Những nét đặc sắc trong nghệ thuật truyện ngắn Nam Cao như điển hình hóa nhân vật, miêu tả tâm lí nhân vật, nghệ  thuật trần thuật, ngôn ngữ nghệ thuật….

   2. Kĩ năng:  - Tóm lược hệ thống luận điểm của bài về tác giả văn học.

- Đọc – hiểu văn bản theo đặc trưng thể loại.

- Tích hợp bảo vệ môi trường: thiếu tình tình thương của làng Vũ Đại, đẩy con người vào con đường lưu manh, môi trường có thể cứu vớt được con người song cũng có thể vùi lấp con người.

- Tích hợp giáo dục kĩ năng sống: kĩ năng giao tiếp trình bày; kĩ năng tư duy sáng tạo; kĩ năng tự nhận thức: phân tích nguyên nhân dẫn đến con đường tội lỗi và bi kịch nhân vật Chí Phèo

    3.Thái độ:  Học sinh có ý thức học tập để có cái nhìn đúng đắn và đánh giá đúng giá trị tác phẩm văn học của Nam Cao.

C. PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC: Diễn giảng,phát vấn kết hợp trao đổi, thảo luận,

D. TIẾN TRÌNH TỔ CHỨC DẠY HỌC

   1. Kiểm tra sĩ số:

   2. Kiểm tra bài cũ:  Kiểm tra việc chuẩn bị bài của học sinh

   3. Bài mới: Lời vào bài: đề tài người nông dân trước cách mạng tháng tám được các nhà văn khai thác ở những khía cạnh khác nhau. Tác phẩm Chí Phèo, Nam cao khắc họa lại một hình tượng người nông dân từ lương thiên đến tha hóa vì có sự ảnh hưởng của các yếu tố xã hội. Bài học hôm nay sẽ giúp ta hiểu rõ hơn về điều đó.

Hoạt động của giáo viên và học sinh

Nội dung bài dạy

TIẾT 1

- GV: Em hãy trình bày hoàn cảnh sáng tác, đề tài của tác phẩm?

+ HS: trả lời

+ GV:  giảng thêm - chốt ý

+ GV: Trình bày những hiểu biết của em về nhan đề của tác phẩm? Tại sao tác giả lại đặt tên tác phẩm là “Cái lò gạch cũ” và Đôi lứa xứng đôi”? Qua đó nêu chủ đề của tác phẩm?

+ HS: trả lời

+ GV: chốt ý

+ GV: hướng dẫn HS đọc hiểu văn bản

+ GV: Chí Phèo  được tác giả giới thiệu có hoàn cảnh,lai lịch  như thế nào? ( Hoàn cảnh xuất thân, con người)

+ HS: trả lời

+ GV: chốt ý

+ GV: Nguyên nhân nào  đã đẩy Chí Phèo phải vào tù? Nhà tù thực dân đã là cho Chí phéo thay đổi như thế nào? ( nhân hình, lẫn nhân tính) Lấy dẫn chứng chứng minh?

+ HS: trả lời

+ GV: chốt ý

- GV: chia lớp làm hai nhóm

+ Nhóm 1: Mở đầu truyện có gì đặc biệt? ý nghĩa của tiếng chửi?

+ HS: đại diện trả lời

+ GV: chốt ý

+ Nhóm 2: sự thay đổi về nhân hình, nhân tính của Chí sau khi ra tù ?

+ HS:  đại diện trả lời

+ GV: chốt ý

* Tích hợp kiến thức: từ sự thay đổi của Chí Phèo trước và sau khi ra tù em có nhận xét như thế nào về Sự phát triển  nhân cách của con người có sự ảnh hưởng từ các yếu tố nào trong cuộc sống ?

- HS: trả lời

( môi trường giáodục từ trong gia đình và luật pháp của xã hội có ảnh hưởng lớn đến sự phát triển nhân cách mỗi cá nhân, sống trong xã hội tốt đẹp con người sẽ phát triển toàn diện, sống trong môi trường có nhiều cái ác, cái xấu thì sẽ ảnh hưởng đến con người từ  nhận thức cho đến hành động)

-VD: thời đại công nghệ thông tin, nhiều bạn trẻ đang sống trong thế giới ảo.

+ GV: Việc gặp gỡ thị Nở có ý nghĩa như thế nào đối với cuộc đời Chí Phèo? Tâm trạng của Chí  thay đổi ra sao sau cuộc gặp gỡ đó?

+ HS: trả lời

+ GV: chốt ý

+ GV: diễn biến tâm trạng của Chí khi thị Nở mang nồi cháo còn nóng vào? Tình yêu mộc mạc, chân thành của thị Nở đã đánh thức dậy con người thực trong Chí Phèo như thề nào?

+ HS:  trao đổi nhanh -trả lời

+ GV: chốt ý         

*Tích hợp: từ mối tình thị Nở và Chí Phèo em có suy nghĩ gì về tình yêu thương con người trong cuộc sống?

-HS: trả lời

( Con người cần có lòng cảm thông, chia sẻ với nhau theo đúng nghĩa tình cảm của một con người với một con người, nó là động lực giúp chúng ta thấy  cuộc sống  có nghĩa hơn , sống không vụ lợi, suy tính, con người sống không thể thiếu tình yêu thương)

 

+ GV: lồng ghép tích hợp bảo vệ môi trường.

+ GV: Diễn biến tâm trạng của Chí Phèo khi bị thị Nở từ chối? Vì sao Chí lại có hành động thật dữ dội đi giết bá Kiến sau đó tự sát? Ý nghĩa cái chết của Chí?

+ HS: trả lời

+ GV: giảng chốt ý

 Môi trường sống thiếu tình thương của làng Vũ Đại đầy thành kiến, một xã hội phong kiến nửa thực dân thu nhỏ, đã đẩy Chí Phèo vào con đường lưu manh hóa. Cánh cửa tình người duy nhất – Thị Nở vừa hé mở đã đóng sập lại, Chí Phèo bị cự tuyệt hoàn toàn và sự bế tắc lên đến cực điểm, để dẫn tới bừng ngộ ngâu nhiên mà tất yếu dẫn tới kết cục bi thảm. Môi trường sống có thể cứu vớt con người song cũng có thề vùi lấp con người.

*Tích hợp: qua cái chết Chí Phèo em trình bày về thái độ của bản thân?

-HS: trao đổi nhanh- trả lời

( Sống phải biết đấu tranh, lên án cái xấu, bảo vệ lẽ phải cho con người)

TIẾT 2

 

* Tích hợp kĩ năng sống

+ GV: thông qua việc tìm hiều tác phẩm em hãy nêu giá trị của tác phẩm?

+ HS: trả lời

 

 

 GV: chốt ý

+ GV: Em hãy trình bày nghệ thuật đặc sắc và ý nghĩa văn bản?

+ HS:  trao đồi trả lời

+ GV: chốt ý

 

+ GV: hướng dẫn học sinh tự học

+ Hs ghi chép yêu cầu của giáo viên

I. GIỚI THIỆU CHUNG.

1. Hoàn cảnh sáng tác,

- Viết năm 1941, thuộc đề tài người nông dân trước cách mạng tháng Tám.

2. Nhan đề.- Lúc đầu là“ Cái lò gạch cũ”, nhưng khi in thành sách nhà xuất bản tự ý đổi thành “ Đôi lứa xứng đôi, đến năm 1946 tác giả đặt lại là Chí Phèo.

+ “Cái lò gạch cũ” :cái lò gạch cũ như là biểu tượng về sự xuất hiện tất yếu của hiện tượng Chí Phèo

+ “Đôi lứa xứng đôià hướng sự chú ý vào Chí Phèo và Thị Nở -

3. Chủ đề:Qua tác phẩm Chí Phèo, nam Cao tố cáo mạnh mẽ xã hội thực dân nửa phong kiến tàn bạo đã cướp đi của người nông dân lương thiện cả nhân hình lẫn nhân tính. Đồng thời nhà văn cũng trân trọng phát hiện và khẳng định bản chất tốt đẹp của những con người này ngay khi tưởng chừng họ đã bị biến thành quỷ dữ.

II. ĐỌC HIỂU - VĂN BẢN

1. Đọc

2. Tìm hiểu văn bản

2.1. Hình tượng nhân vật Chí Phèo.

a. Chí –người nông dân lương thiện .

- Có một hoàn cảnh riêng, đặc biệt: không nhà, không cửa,không cha, không mẹ, không người thân thích, không một tấc đất cắm dùi

- Hiền lành, chăm chỉ à cày thuê, cuốc mướn để kiếm sống

- Trong sáng, giàu lòng tự trọng “Năm 20 tuổi: đi ở cho nhà cụ Bá Kiến. Bị bà ba Bá Kiến gọi lên đấm lưng, bóp chân…Chí cảm thấy nhục chứ yêu đương gì” và có những ước mơ thật giản dị “có một ngôi nhà nho nhỏ, chồng cày thuê cuốc mướn, vợ dệt vải…”

=> Chí Phèo là một người nông dân lương thiện

b. Chí phèo- thằng lưu manh,”con quỷ dữ”

- Vì ghen tuông vô cớ, Bá Kiến đẩy chí Phèo vào tù

- Nhà tù thực dân tiếp tay cho địa chủ phong kiến biến một người nông dân lương thiện thành một thằng lưu manh, một con quỷ dữ của làng Vũ Đại

- Đi tù về, Chí trở thành người khác hẳn, biến đổi cả về nhân hình lẫn nhân tính, “ trông gớm chết”

+ Nhân hình: “ Cái đầu trọc lốc, cái răng cạo trắng hớn, cái mặt thì đen, mà rất cơng cơng, hai mắt gườm gườm{..} cái ngực phanh đầy những nét chạm trổ”

+ Nhân tính:

* Không còn là một anh canh điền hiền lành ngày xưa à bây giờ là một thằng liều mạng, hắn có thể làm mọi việc như một thằng đầu bò chính cống: kêu làng, ăn vạ, đập phá, đâm chém, chìm đắm trong men rượu “ bao giờ cũng say”;” say vô tận”, chửi bới

*  Chí Phèo vừa đi vừa chửià không có người nghe.

* Hắn chửi đời, chửi trời, chửi cả làng Vũ Đại à không ai lên tiếng

* Hắn chửi “ cha đứa nào không chửi nhau với hắn

* Hắn chửi chính “ đứa chết mẹ nào” đẻ ra mình

* Tiếng chửi thật thảm hại: cả làng “ không ai ra điều” đáp lại lời hắn, chỉ có “ ba con chó dữ”à kiếp sống cô độc của người nông dân bị tha hóa.

=> Sự phản ứng của Chí Phèo với cuộc đời, nó bộc lộ tâm trạng bất mãn của một con người ít nhiều ý thức được mình đã bị xã hội phi nhân tính gạt ra khỏi thế giới loài người

 => Chí Phèo trở thành thằng lưu manh con quỷ dữ của làng Vũ Đại sống tăm tối như thú vật xa lạ với mọi người.

Nỗi đau lớn nhất của Chí Phèo: nỗi đau của một con người bị tàn phá về thể xác, bị hủy diệt về tâm hồn, bị xã hội cự tuyệt không cho làm người, bên cạnh nỗi đau cơm áo…

c. Chí Phèo- bi kịch của người sinh ra là người nhưng không được lảm người:

Ø                 Cuộc gặp gỡ với Thị Nở

+ Cuộc gặp gỡ với Thị Nở và sự yêu thương chăm sóc chân thành của Thị đã đánh thức dậy tình người trong Chí. “ Chí Phèo … sáng hôm sau, khi Chí Phèo tỉnh dậy “ trời sáng đã lâu”

* Chí hết say, hoàn toàn tỉnh táo

* Thấy lòng “ bâng khuâng”; “ mơ hồ buồn”. Cảm nhận được âm thanh quen thuộc của cuộc sống xung quanh: “Tiếng chim hót … buôn vải ở Nam Định về” à đó là tiếng gọi tha thiết của cuộc sống

* Nhìn lại cuộc đời mình:

- Quá khứà “ hắn ao ước có một gia đình nho nhỏ…. Khá giả mua dăm ba sào ruộng mà làm” à ước mơ giản dị, nhỏ bé nhưng chưa thành hiện thực:

-  Hiện tại: thật đáng buồn: buồn vì thấy mình đã già “ đã tời cái dốc bên kia của cuộc đời”; “ cơ thể hư hỏng nhiều” à vẫn còn đang cô độc

- Tương lai: tương lai lại thật đáng buồn hơn, bởi hắn có quá nhiều bất hạnh: “ đói rét và ôm đau và cô độc”. Đối với Chí, “cô độc còn đáng sợ hơn đói rét và ốm đau”.

=> Lần dầu tiên tỉnh táo, nhận thấy tình trạng bi đát, tuyệt vọng của cuộc đời mình.

* Chí Phèo đang nghĩ vẩn vơ  thì “ Thị Nở mang nồi cháo hành còn nóng nguyên vào”

+ Chí Phèo ngạc nhiên và xúc động đến trào nước mắt, dây là lần thứ nhất trên đời “ hắn được một người đàn bà cho”

+ Thấy cháo của Thị Nở thơm ngon lạ lùng “ Chỉ  khói xông vào mũi cũng đủ làm người nhẹ nhõm”. Đối với Chí đó không chỉ là bát chào hành bình thường, nó còn hàm chứa cả tình yêu chân thành thị dành cho hắn

=>Tình yêu mộc mạc, chân thành của Thị Nở, Chí Phèo sống đúng với con người thực của mình. Hắn muốn làm người lương thiện, muốn hòa nhập với mọi người.

Ø                 Khi bị Thị Nở từ chối

- Ước mong sống lương thiện không thành hiện thực – bà cô Thị Nở ngăn cản mối tình này à thị trút giận vào hắn à Chí ngẩn người thất vọng: “ hắn như lại hít thấy hơi cháo hành”; hắn đuổi theo thị nắm lấy tay “ à Chí khát khao tình yêu, tha thiết đến với thị Nở, đến với cuộc đời lương thiện biết chừng nào

- Tình yêu tan vỡ à Chí rơi vào tình thế tuyệt vọng.

+ Vật vã đau đớn, vì bị dồn đến đường cùng

+  Chí lại uống rượu à càng uống lại càng tỉnh ra” à nhận ra nỗi đau thân phận “ hắn ôm mặt khóc rưng rức” và cứ “ thoang thoảng thấy hơi cháo hành” à nhấn mạnh niềm khát khao yêu thương và bi kịch tinh thần của Chí

+ Thấm thía hơn tội ác của kẻ đã cướp đi của mình cả bộ mặt và tâm hồn . Chí vác dao đến nhà Bá Kiến kết tội hắn và đòi làm người lương thiện

+ Trong cơn phẫn uất à Chí giết chết bá Kiến và kết liễu đời mình. à Bi kịch của người sinh ra là người nhưng không được làm người.

Cái chết ấy cho thấy niềm khao khát cháy bỏng được sống lương thiện của Chí và có sức tố cáo mạnh mẽ xã hội thuộc địa phong kiến. Nó cũng chứng tỏ cảm quan hiện thực sâu sắc của Nam Cao: Tình trạng xung đột giai cấp ở nông thôn Việt nam là hết sức gay gắt, và nó chỉ được giải quyết bằng những biện pháp quyết liệt.

2.2. Giá trị của tác phẩm.

- Phản ánh tình trạng một bộ phận nông dân bị tha hóa, mâu thuẫn giữa nông dân và địa chủ, giữa các thế lực ác bá ở địa phương.

- Cảm thương sâu sắc trước cảnh người nông dân cố cùng bị lăng nhục

- Phát hiện và miêu tả phẩm chất tốt đẹp của người nông dân ngay khi tưởng như họ bị biến thành thú dữ

- Niềm tin vào bản chất lương thiện của con người.

3.Tổng kết

a. Nghệ thuật

- Xây dựng nhân vật điển hình trong hoàn cảnh điển hình.Vừa có ý nghĩa tiêu biểu, vừa sống động có cá tính độc đáo. Nghệ thuật miêu tả tâm lí nhân vật sắc sảo.

- Ngôn ngữ  sống động, vừa điêu luyện lại gần gũi tự nhiên; giọng điệu đan xen biến hóa, trần thuật linh hoạt. - Kết cấu truyện mới mẻ, tưởng như tự do nhưng lại rất chặt chẽ, lôgic.

- Cốt truyện và các tình tiết hấp dẫn, biến hóa giàu kịch tính.

 b. Ý nghĩa văn bản:”Chí Phèo” tố cáo mạnh mẽ xã hội thuộc địa phong kiến tàn bạo cướp đi nhân hình lẫn nhân tính của người nông dan lương thiện đồng thời nhà văn phát hiện và khẳng định bản chất tốt đẹp của con người ngay cả khi học đã biến thành quỷ dữ.

III. HƯỚNG DẪN TỰ HỌC

- Nắm được nhân vật Chí Phèo và giá trị tác phẩm

- Chuẩn bị : Cha con nghĩa nặng

  E. Dặn Dò: Các em học bài, soạn bài đọc thêm “cha con nghĩa năng”: Đọc tác phẩm; Nắm nội dung và nghệ thuật của tác phẩm

  G. Rút kinh nghiệm:…………………………………………………………………………….

 

Đọc thêm:  CHA CON NGHĨA NẶNG

                                                        HỔ BIỂU CHÁNH

A. MỨC ĐỘ CẦN ĐẠT

- Hiểu được nghĩa tình cha con nghĩa nặng qua tâm trạng và hành động

- Nắm được tình huống truyện và khả năng thúc đẩy sự kiện của lờ thoại, ngôn ngữ và tính cách nhân vật mang dậm sắc thái Nam Bộ.

B. TRỌNG TÂM KIẾN THỨC, KĨ NĂNG, THÁI ĐỘ

   1. Kiến thức: Tình cha con nghĩa nặng. Lời thoại của người cha và con thúc đẩy mâu thuẫn truyện.

   2. Kĩ năng:  Đọc – hiểu đoạn trích theo đặc trưng thể loại.

  3.Thái độ:  Học sinh có ý thức quý trọng tình cảm cha con, ruột thịt. Thấy được sự hi sinh cao cả của cha mẹ.

C. PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC: Diễn giảng,phát vấn kết hợp trao đổi, thảo luận,

D. TIẾN TRÌNH TỔ CHỨC DẠY HỌC

   1. Kiểm tra sĩ số:

   2. Kiểm tra bài cũ: Ý nghĩa cái chết của Chí Phèo?

   3. Bài mới: Lời vào bài:   Trong cuộc sống của mỗi con người chúng ta có bao điều đáng quý, đáng trân trọng, trong đo phải kể đến tình mẫu tử, cha con. Bài học hôm nay sẽ giúp các em thấu hiểu được sự hi sinh thầm lặng của cha mẹ dành cho con cá, từ đó bản thân mỗi chúng ta tự rút ra bài họccho bản thân.

Hoạt động giáo viên và học sinh

Nội dung bài dạy

- GV: Gọi học sinh đọc tiểu dẫn SGK

- HS: Tóm tắt nội dung chính.

- GV: hướng dẫn HS tìm hiểu chú thích, đọc văn bản theo đoạn. Chú ý giọng đọc

+ GV:  Nêu tâm trạng người cha sau 11 năm trở về quê hương?

+ HS:  trao đồi trả lời

+ GV: chốt ý. Tâm trạng của người con khi nghe được cuộc đối thoại giữa cha và ông ngoại ?

+ HS:  trao đồi trả lời

+ GV: chốt ý. Qua cuộc đối thoại giữa hai cha con Tí, tác phẩm ca ngợi điều gì ?

+ HS:  trao đồi trả lời

+ GV: chốt ý. Nêu đặc sắc nghệ thuật của tác phẩm?

+ HS:  trao đồi trả lời

+ GV: chốt ý. Qua bài học,em hãy nêu nghệ thuật đặc sắc, ý nghĩa câu truyện?

+ GV: hướng dẫn học sinh tự học.

- HS ghi chép yêu cầu của giáo viên.

I. GIỚI THIỆU CHUNG

- Vài nét về tác giả, tác phẩm ( SGK)

II. ĐỌC HIỂU - VĂN BẢN

1. Đọc

2. Tìm hiểu văn bản

2.1. Tâm trạng người cha:

Người cha rất vui khi được biết con mình đã được cưu mang, sắp thành gia thất. Trần Sửu nghĩ bây giờ chết cũng yên tâm, không còn băn khoăn gì nữa.

2.2. Tâm trạng người con:

Thằng Tí ngỡ cha nó chết rồi. Sự xuất hiện của cha là một bất ngờ với nó. Nghe được câu chuyện giưa cha và ông ngoại, thằng Tí càng thương và quý cha nó hơn.

2.3. Cuộc đối thoại giữa hai cha con:

+ Sửu vì thương con mà muốn tự tử, Tý vì chữ hiếu mà quyết định chạy theo cha, từ bỏ hạnh phúc riêng của mình: Chữ hiếu thắng.

àCa ngợi tình nghĩa cha con sâu nặng

3.Tổng kết

a. Nghệ thuật

- Tạo tình huông phức tạp căng thẳng, mâu thuẫn được đẩy lên qua lời thoại.

- Ngôn ngữ giàu sắc thái Nam Bộ, sử dụng nhiều từ ngữ và cách nói địa phương

b. Ý nghĩa văn bản:

Vẻ đẹp lòng hiếu thảo và tinh thương con là bài học của muôn đời.

III. HƯỚNG DẪN TỰ HỌC.

- Suy ngẫm của anh ( chị) về tình cha con.

- Chuẩn bị bài: BTTH “Chí Phèo”

  E. Dặn Dò: các em học bài:Chuẩn bị tiết tự chọn BTTH “Chí Phèo”: lập dàn ý cho nhân vật chí phèo.  Giá trị hiện thực, nhân đạo trong tác phẩm   

G. Rút kinh nghiệm................................................................................................................................

   3. Phân tích tiết minh họa phân môn đọc – hiểu văn bản.

Chiều tối (Mộ) - Hồ Chí Minh –

A. MỨC ĐỘ CẦN ĐẠT

-  Cảm nhận được vẻ đẹp của tâm hồn Hồ Chí Minh: sự kết hợp hài hòa giữa chiến sĩ và thi sĩ, giữa yêu nước và nhân đạo.  Thấy được sắc thái vừa cổ điển vừa hiện đại của bài thơ

B. TRỌNG TÂM KIẾN THỨC, KĨ NĂNG, THÁI ĐỘ

   1. Kiến thức: Lòng yêu thiên nhiên, yêu con người, yêu cuộc sống; nghị lực kiên cường vượt lên hoàn cảnh, phong thái tự tại và niềm lạc quan của Hồ Chí Minh

- Vẻ đẹp của thơ trữ tình Hồ Chí Minh: sự kết hợp hài hòa giữa màu sắc cổ điển và hiện đại, giữa chất thép và chất tình.

  2. Kĩ năng:  Đọc – hiểu tác phẩm trữ tình

- Phân tích một bài thơ thất ngôn tứ tuyệt theo đặc trưng thể loại.

- Tích hợp kĩ năng sống: Kĩ năng giao tiếp trình bày; kĩ năng tư duy sáng tạo, kĩ năng tự nhận thức: bài học cho bản thân về tấm lòng yêu nước và sự chia sẻ giữa con người với con người trong cuộc sống. Tích hợp tư tưỏng đạo đức Hồ Chí Minh:Yêu thiên nhiên, phong thái ung dung tự tại, bản , lĩnh cách mạng

  3.Thái độ: Giáo dục lòng yêu nước, tinh thần lạc quan, yêu đời, yêu cuộc sống, tran trọng nhân cách cao đẹp của Hồ Chí Minh

C. PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC: GV tổ chức giờ dạy bằng phương pháp/KTDH tích cực có thể sử dụng: + Động não:  Học sinh suy nghĩ, trình bày cảm nhận về bức tranh thiên nhiên và sự chuyển đổi mạch cảm xúc của bài thơ

+  Đặt câu hỏi: giáo viên đặt câu hỏi và học sinh trả lời

+ Thảo luận: Trao đổi màu sắc cổ điển và  tinh thần thời đại qua bài thơ

+ Trình bày 1 phút: Nêu những nhận xét về  nội dung và nghệ thuật của bài thơ.

+ Trao đổi trong bàn:

D. TIẾN TRÌNH TỔ CHỨC DẠY HỌC

  1. Kiểm tra sĩ số:

  2. Kiểm tra bài cũ: Kiểm tra việc làm bài tập của học sinh

  3. Bài mới: Lời vào bài: Tạo tâm thế cho học sinh thông qua lời giới thiệu bài mới hoặc đặt câu hỏi giúp HS tích hợp kiến thức đã học để tìm hiểu nội dung bài học mới.

Hoạt động 1:  Giáo viên hướng dẫn học sinh tìm hiểu khái quát về tác giả, bài thơ.

- GV đặt câu hỏi yêu cầu HS trả lời những thông tin cần thiết về tác giả và tác phẩm.   Em hãy trình bày những hiểu biết của mình về Hồ Chí Minh

+ Học sinh trình bày

+ Giáo viên chốt lại ý cơ bản: Hồ Chí Minh (1890 -  1969). Quê quán:  Kim Liên ,Nam Đàn –Nghệ An.  Tên gọi thời niên thiếu là Nguyễn Sinh Cung, thời kì hoạt động cách mạng lấy tên là Nguyễn Ái Quốc. Xuất thân trong một gia đình nhà Nho yêu nước.  Hồ Chí Minh là nhà yêu nước, nhà cách mạng vĩ đại,một nhà hoạt động lỗi lạc của phong trào quốc tế cộng sản, là nhà văn, nhà thơ lớn, danh nhân văn hóa thế giới.

 -  Tìm hiểu vị trí của bài thơ “ Chiều tối”: Học sinh tự tìm hiểu vị trí của bài thơ

Vị trí của bài thơ: bài thứ 31 của tập “ Nhật kí trong tù” sáng tác vào cuối mùa thu năm 1942, trên đường đi đày từ Tĩnh tây đến Thiên Bảo.

- Giáo viên gợi mở, nêu vấn đề: bài thơ  thể hiện bức tranh thiên nhiên nơi núi rừng lúc chiều muộn đồng thời thể hiện vẻ đẹp trong tâm hồn của người chiến sĩ cộng sản Hồ Chí Minh.

Hoạt động 2: Giáo viên hướng dẫn học sinh tìm hiểu bài thơ

- Đọc và tìm hiểu bố cục của bài thơ – GV sử dụng phương pháp đặt câu hỏi

+ Theo em bài thơ có thể chia bố cục làm mấy phần? Nội dung từng phần là gì?

+ Học sinh có thể trả lời: bài thơ chia làm hai phần: Hai câu đầu- bức tranh thiên nhiên lúc chiều muộn; hai câu sau – vẻ đẹp bức tranh cuộc sống vùng sơn cước.

+ Giáo viên chốt lại vấn đề, hướng dẫn học sinh đối chiếu bản dịch thơ với nguyên tác chữ Hán để tìm ra nhưng chỗ dịch chưa sát.

+ Hai câu đầu: Đối chiếu bản dịch thơ với nguyên tác chữ Hán. Bản dịch thơ bỏ mất chữ  (cô vân)->  làm giảm nhẹ ý thơ. Hai chữ trôi nhẹ  trong bản dịch thơ cũng không lột tả được dáng vẻ lững lờ, chầm chậm của đám mây chiều...

+ Hai câu cuối:  Chữ “ tối” trong bản dịch thơ đã làm mất đi ý nghĩa của tứ thơ, không phù hợp với ý đồ của người viết ( không nói đến cái “ tối” mà vẫn có thể lột tả được bóng tối bằng thủ pháp nghệ thuật dùng ánh sáng để tả bóng tối.)

- Giáo viên hướng dẫn học sinh tìm hiểu nội dung bài thơ

 - Phương pháp: đặt câu hỏi, động não suy nghĩ, trao đổi, thảo luận nhóm và trình bày 1 phút. Hai câu đầu: “Quyện điểu quy lâm tầm túc thụ/Cô vân mạn mạn độ thiên không”.

- Phương pháp tiếp cận:  Giáo viên đặt câu hỏi  học sinh động não suy nghĩ trả lời

-  GV đặt câu hỏi phát hiện về ý thơ

Em hãy cho biết nội dung của hai câu thơ đầu? (Hai câu thơ tả cảnh gì? ở đâu? vào lúc nào?)

+  Cảnh thiên nhiên nơi rừng núi lúc chiều muộn:

- Gv đặt câu hỏi: Bức tranh thiên nhiên nơi rừng núi được dựng lại bằng những hình ảnh nào?

- Học sinh trả lời và giáo viên chốt ý

+ Một cánh chim chiều mỏi mệt bay về tổ

+ Một chòm mây lẻ loi, cô đơn, chậm chậm trôi ngang bầu trời

Hai hình ảnh là thông điệp để tả cảnh chiều. Đây là những hình ảnh quen thuộc vẫn thường gặp trong thơ cổ mỗi khi tả cảnh chiều -> Biểu hiện nét cổ thi trong bài thơ. Đồng thời nó mở ra không gian khoáng đạt

 - Giáo viên đặt câu hỏi: Theo em, hai câu thơ này ngoài việc dựng lên bức tranh thiên nhiên khoáng đạt còn gợi  ra được điều gì trong tâm hồn của Bác ? Học sinh trả lời và giáo viên chốt ý:  Tình yêu thiên nhiên. Cảnh ngộ của người tù trên bước đường đi đày

- Giáo viên đặt câu hỏi: Theo em những hình ảnh trên đã được Bác tái hiện bằng bút pháp nghệ thuật quen thuộc nào trong thơ cổ ?

- Học sinh trả lời và giáo viên chốt ý:  Bút pháp tả cảnh ngụ tình. Bằng vài nét chấm phá tác giả đã ghi lại một cách chân thực cảnh thiên nhiên miền rừng núi lúc chiều muộn. Qua đó, ta bắt gặp một tâm hồn giàu cảm xúc  trước thiên nhiên và sự sống, một nghị lực phi thường của nhà thơ, người tù người chiến sĩ cộng sản Hồ Chí Minh và đó cũng là chất thép trong thơ của Bác.

- Giáo viên cũng có thể gợi mở đề học sinh tìm tòi, khám phá: Em hãy tìm những câu thơ miêu tả về hình ảnh cánh chim chiều? Từ đó so sánh với hình ảnh cánh chim trong thơ Bác? Ví dụ: Trong Truyện Kiều: “Chim hôm thoi thót về rừng”; Ngàn mai gió cuốn chim bay mỏi – Bà Huyện Thanh Quan.  Cánh chim trong thơ xưa gợi cảm giác về sự xa săm, phiêu bạt, bay mãi tới vô tận càng bay càng mất hút.  Qua việc tìm hiểu nội dung của hai câu thơ trên đã giúp cho học sinh hình thành kĩ năng sống: Giao tiếp, tư duy sáng tạo.

- Hai câu cuối: “ Sơn thôn thiếu nữ ma bao túc/ Bao túc ma hoàn lô dĩ hồng”

-  Phương pháp: đặt câu hỏi ; trao đổi trong bàn. Giáo viên giảng dẫn dắt: Nếu hai câu thơ đầu bằng bút pháp cổ điển Bác đã dựng lên bức tranh thiên nhiên khoáng đạt mang đậm nét cổ thi thì hai câu thơ cuối Bác đã sử dụng bút pháp hiện đại dựng lên bức tranh về cuộc sống con người.

- Giáo viên đặt câu hỏi: Hình ảnh nào gợi lên cuộc sống của con người ở hai câu thơ cuối này ?

- Học sinh trả lời

- Gv chốt ý:  Hình ảnh thiếu nữ xay ngô, Hình ảnh lò than rực hồng

- Giáo viên đặt câu hỏi: So sánh hình ảnh người thiếu nữ trong thơ xưa với người thiếu nữ trong thơ Bác ta thấy có gì khác nhau không ? Học sinh  trao đổi trong bàn và trả lời

- Gv chốt ý: Người phụ nữ trong thơ xưa thường được ví" Liễu yếu đào tơ", thường sống trong cảnh" phòng khuê khép kín" và chỉ biết " Cầm, kì, thi, hoạ"

+ Người thiếu nữ trong thơ Bác lại gắn liền với công việc lao động bình dị, đời thường, khoẻ khoắn, đầy sức sống. Xóm núi trở nên đẹp hơn, ấm áp hơn phải chăng chính là sự xuất hiện của cô gái. Vẻ đẹp trẻ trung, đầy sức sống của người thiếu nữ với tư thế lao động (Xay ngô) là tâm điểm của bức tranh thiên nhiên buổi chiều.

- Gv đặt câu hỏi: Hình ảnh của Cô gái xay ngô được miêu tả  như thế nào ? Học sinh trả lời

- Gv chốt :  Cô gái miệt mài xay ngô, và hình như không chú ý đến những gì xung quanh. Ma bao túc- bao túc ma hoàn: Khi xay ngô xong "lò than đã rực hồng"

- Gv đặt câu hỏi: Hình ảnh “lò than rực hồng” có ý nghĩa gì ?  Học sinh trả lời

- Gv chốt ý:  Hình ảnh "lò than rực hồng" hiện lên trong đêm tối càng làm nổi bật hình ảnh người thiếu nữ. Toàn bộ cảnh thiên nhiên đang chìm trong màu xám nhạt chuyển sang màu tối. Cũng vì thế hình ảnh lò than rực hồng có sức lôi cuốn đặc biệt và mang nhiều ý nghĩa.

- Gv đặt câu hỏi: Em hiểu chữ "hồng" trong bài thơ này như thế nào ? Học sinh trả lời

- Gv chốt ý  Bài thơ kết thúc bằng chữ "hồng" Soi rõ vẻ đẹp của người thiếu nữ, toả ánh sáng và hơi ấm xua đi cái buồn vắng của bức tranh chiều tối nơi rừng núi. Đó chính là ánh lửa hồng của cuộc sống đầm ấm, hạnh phúc gia đình, ánh lửa hồng của sự sống, của niềm lạc quan tin tưởng vào tương lai, vào sự đổi thay của sự nghiệp cách mạng.

- Gv đặt câu hỏi: Qua hai câu thơ  cuối em cảm nhận được điều gì về Bác?

- Học sinh trả lời

- Gv chốt ý: Cái nhìn ấm áp, đầy tình yêu thương, trân trọng của Bác đối với con người lao động. Bác vui với niềm vui của cuộc sống thanh bình, sung túc của con người miền sơn cước.

Bác luôn vượt lên hoàn cảnh khắc nghiệt của hiện tại hướng tới tương lai

            Thông qua việc tìm hiểu hai câu  thơ cuối hình thành cho học sinh kĩ năng giao tiếp, trình bày – cảm nhận về con người và cuộc sống ; kĩ năng tư duy sáng tạo – khi bình luận các hình ảnh thơ, đặc biệt là hình ảnh cô gái xay ngô và hình ảnh lò than rực hồng ; kĩ năng nhận năng nhận thức- vẻ đẹp của cuộc sống.

   Hoạt động 3: Giáo viên hướng dẫn học sinh tổng kết về nghệ thuật và ý nghĩa văn bản

 Phương pháp/ kĩ thuật dạy học : Kĩ thuật  trình bày 1 phút được vận dụng vào cuối giờ sau khi giáo viên và học sinh đã cùng tìm hiểu bài thơ, giúp học sinh hình thành những kiến thức cơ bản về nội dung và nghệ thuật. Gv đặt câu hỏi: Nêu nhận xét về nghệ thuật đặc sắc và ý nghĩa văn bản ? Học sinh trả lời. Gv chốt ý

+ Nghệ thuật: từ ngữ cô đọng hàm súc, thủ pháp đối lập , lặp liên hoàn

+ Ý nghĩa văn bản : vẻ đẹp tâm hồn và nhân cách nghệ sĩ –chiến sĩ Hồ Chí Minh :yêu thiên nhiên ,yêu con người ,yêu cuộc sống ;kiên cường vượt lên hoàn cảnh ,luôn ung dung ,tự tại và lạc quan trong mọi cảnh ngộ đời sống .

* Thực hành, luyện tập:  Gv đặt câu hỏi thảo luận nhóm 2 phút: Qua tìm hiểu bài thơ em hãy cho biết  màu sắc cổ điển và hiện đại thể hiện như thế nào trong bài thơ ? Gv chia lớp làm hai nhóm: Nhóm 1 – biểu hiện của chất cổ điển; nhóm 2- biểu hiện của chất hiện đại. - Học sinh trả lời.  Gv chốt ý

+ Chất cổ điển:  thể thơ tứ tuyệt hàm súc ; hình ảnh đậm tính ước lê, tượng trưng sử dụng hình ảnh quen thuộc trong thơ cổ ( cánh chim, chòm mây); khắc họa cảnh vật bằng bút pháp chấm phá gợi tả cốt ghi lấy linh hồn của tạo vật

+ Tính hiện đại:  miêu tả con người như là trung tâm của bức thanh thiên nhiên; mạch thơ vận động hướng về sự sống và ánh sáng

* Vận dụng:  Qua bài học ngày hôm nay em tự rút ra được bài học gì cho bản thân ? - Học sinh có thể trả lời:  tự nhận thức bài học cho bản thân về  tấm lòng yêu thương, chia sẻ giữa con người với con người trong cuộc sống.  Thông qua bài tập vận dụng hình thành cho học sinh kĩ năng nhận thức- nhận thức về bản thân

Từ một số kết quả trên đã cho thấy việc chuẩn bị chu đáo của giáo viên từ nội dung đến phương pháp dạy học  tích cực sẽ mang lại hiệu quả cao trong việc giáo dục và hình thành kĩ năng sống cho học sinh.

Qua thực tiễn điều tra, khảo sát, Tôi thu thập được phiếu khảo sát từ phía học sinh như sau:

            Tóm lại, việc  giáo dục kỹ năng sống cho học sinh hiện nay là điều rất cần thiết. Nó trang bị đầy đủ những kỹ năng cho các em để các em có được cuộc sống ngày càng tốt đẹp hơn. Để làm được điều đó, mỗi người giáo viên cần nêu cao tinh thần trách nhiệm của mình ở mọi lúc, mọi nơi, đặc biệt là trong việc giúp những em có thói quen xấu và hành vi tiêu cực trở thành con ngoan, trò giỏi và là người có ích cho xã hội sau này.

VI. THỰC HÀNH THỂ NGHIỆM VÀ KHẢO SÁT CHUYÊN ĐỀ 

       1. Tiết dạy không áp dụng chuyên đề:

       2. Tiết dạy áp dụng chuyên đề đổi mới phương pháp lòng ghép kiến thức đời sống xã hội vào trong dạy học văn:

+ Phương pháp:  so sánh, tổng hợp, đánh giá….

+ Số lượng:  GV cần  khảo sát trên 2 lớp (80 học sinh) có thực hiện chuyên đề và khảo sát trên 2 lớp (80 học sinh ) không thực hiện ứng dụng chuyên đề để xem xét hiệu quả thực tiễn.

+ GV  ra câu hỏi khảo sát theo nội dung hướng dẫn ở dưới

  -  Khảo sát về tích cực, hứng thú học tập của học sinh

  -  Khảo sát về tính sinh động của bài, có  tạo ra không khí thảo luận, tranh luận sôi nổi ?

  - Khảo sát về việc rèn luyện được năng lực tư duy, quan sát, chú ý các chi tiết có ý nghĩa, biết đặt nhân vật trên nhiều phương diện để nhận xét, phân tích đánh giá, biết dùng lý lẽ, lập luận.

   - Khảo sát xem học sinh có nhận ra các lỗi phân tích văn học…

   -  Khảo sát về học sinh có sự đầu tư bài học, đọc hiểu tác phẩm, tóm tắt cốt truyện và chuẩn bị nội dung bài học theo những câu hỏi dặn dò trước không ?

  -  Khảo sát kĩ năng giao tiếp, vận dụng kiến thức văn học vào đời sống, kĩ năng khái quát nội dung và nghệ thuật trong tác phẩm và các cách khai thác khi phân tích.

Bài  kiểm tra định kỳ, kiểm tra học kỳ và cả năm

Lớp (Sĩ số)

KHẢO SÁT TIẾT KHÔNG CÓ ỨNG DỤNG CHUYÊN ĐỀ

 

> =8

 

6,5 -7,9

 

5,0 - 6,4

 

3,5 - 4,9

 

< 3,5

 

Trên Tb

SL

%

SL

%

SL

%

SL

%

SL

%

SL

%

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Lớp (Sĩ số)

KHẢO SÁT TIẾT CÓ ỨNG DỤNG CHUYÊN ĐỀ

 

> =8

 

6,5 -7,9

 

5,0 - 6,4

 

3,5 - 4,9

 

< 3,5

 

Trên Tb

SL

%

SL

%

SL

%

SL

%

SL

%

SL

%

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

1. Thống kê:

2. Nhận xét kết quả:

3. Tính hiệu quả

C. KẾT LUẬN:

Văn học và đời sống có quan hệ mật thiết với nhau, học văn để áp dụng vào đời sống, văn giúp tâm hồn ta phong phú hơn. Có kiến thức về văn học ta sẽ có thêm kĩ năng sống để ngày càng hoàn thiện mình, để cuộc đời trở nên đáng sống hơn, có ý nghĩa hơn . Văn học còn đem lại nhiều kiến thức bổ ích khác, học xong tác phẩm Rừng xà Nu  của Nguyễn Trung Thành chúng ta thấy mình cần phải có trách nhiệm  bảo vệ rừng , bảo vệ bầu không khí trong lành quanh ta, bài thơ Nhàn của Nguyễn Bỉnh Khiêm đưa ta trở về với cuộc sống thuần hậu, chất phác ,về với những thức ăn cây nhà lá vườn , những sinh hoạt dân dã đời thường. Mỗi tác phẩm ra đời đều ghi dấu ấn về thời gian , không gian sống mãi  trong lòng người đọc. Văn còn bổ sung thêm kiến thức cho các môn học khác như Sử , Địa … Bài thơ Tây Tiến  làm ta nhớ đến những địa danh một thời từng đi vào lịch sử … Chúng ta phải có ý thức giữ gìn để văn học ngày càng phát huy hết vai trò của nó .

D. KIẾN NGHỊ  

 - Tùy vào đối tượng học sinh, tùy theo các giáo viên, chúng ta có thể áp dụng đề tài đưa môn văn liên hệ thực tế để  giúp HS học môn Văn tốt hơn. Kinh nghiệm, tuổi nghề còn chưa nhiều nên không thể tránh khỏi những thiếu xót, chủ quan…chúng tôi rất mong quý Thầy cô, quý đồng nghiệp… giúp đỡ, hỗ trợ và đặc biệt góp ý  nhiệt tình để chuyên đề của chúng tôi được rõ ràng, đầy đủ và tốt hơn.

 -  Chúng tôi đã nhận ra rằng: Môn Văn có liên quan đến cuộc sống rất lớn. Có thể nói, nếu thật sự đầu tư cho nghề nghiệp và môn học, chắc chắn, bài nào cũng có thể rút ra những bài học bổ ích chứ không phải chỉ là kiến thức nặng nề đọc chép. Áp dụng chuyên đề, chúng tôi thấy đã đạt được một số kết quả nhất định mà có thể áp dụng rộng rãi trong khi dạy môn Ngữ Văn. Thời gian gấp gáp, đề tài này chưa được trọn vẹn vì vậy trong thời gian nhiều tời, chúng tôi sẽ thực hiện thể nghiệm đề tài một cách cụ thể, chi tiết hơn.  

-  Nhà trường cần trang bị cho mỗi phòng máy một bộ loa để dạy minh họa lòng ghép vấn đề cuộc sống vào trong  các tác phẩm có phim, ảnh, âm thanh đọc ngâm…

        Rất mong sự chia sẻ và đồng cảm của quý Thầy Cô.

E. TÀI LIỆU THAM KHÀO

1.  Tài liệu hướng dẫn thực hiện chuẩn kiến thức kĩ năng  ( lớp 10;11;12)

2. Sách giao khoa ;  sách giáo viên lớp 10 tập 1 – Nhà xuất bản giáo dục

3. Sách giáo khoa lớp 11 – tập 2 – Nhà xuất bản giáo dục

4. Sách giáo viên lớp 11 – tập 2 – Nhà xuất bản giáo dục

5. Sách giáo khoa lớp 12- tập 1,2 – Nhà xuất bản giáo dục

6. Sách giáo viên lớp 12- tập 1,2 – Nhà xuất bản giáo dục

          7. Tài liệu hướng dẫn dạy tích hợp kĩ năng sống ở trường trung học phổ thông  – Nhà xuất bản giáo dục

 

 

CHUYÊN ĐỀ:

PHƯƠNG PHÁP LỒNG GHÉP TÍCH HỢP

ĐỜI SỐNG XÃ HỘI VÀO DẠY HỌC MÔN NGỮ VĂN THPT

 

Phụ lục:

A. ĐẶT VẤN ĐỀ:

B.     NỘI DUNG

    I. CƠ SỞ LÍ LUẬN

1. Căn cứ.                                                  

2.  Mục đích

3. Lí do                                                      

4. Tính khả thi

   II. CƠ SỞ THỰC TIỄN     

1.1. Giáo viên. 

1.2. Học sinh

  III. GIẢI PHÁP

1.  Tích hợp: Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh. 

a/ Cơ sở:                                       b/ Giải pháp:

c/ Lưu ý:                                      d/ Một số bài tích hợp:

2.  Giáo dục bảo vệ môi trường :

a/ Cơ sở:                                      b/ Giải pháp:

c/ Lưu ý:                                      d/ Một số bài tích hợp:

3.  Tích hợp kĩ năng sống(KNS).

a/ Cơ sở:                                      b/ Giải pháp:

c/ Lưu ý:                                     d/ Một số bài tích hợp:

4. Tích hợp tri thức văn hóa:

a/ Cơ sở:                                       b/ Giải pháp:

c/ Lưu ý:                                      d/ Một số bài tích hợp:

   IV. NGUYÊN TẮC  VẬN DỤNG VÀO DẠY HỌC 

   V. GIÁO ÁN MINH HỌA: 

   VI. THỰC HÀNH THỂ NGHIỆM VÀ KHẢO SÁT CHUYÊN ĐỀ 

1. Thống kê:

2. Nhận xét kết quả:

3. Tính hiệu quả

C. KẾT LUẬN:

D. KIẾN NGHỊ 

E. TÀI LIỆU THAM KHÀO

 




Gửi bình luận của bạn

Họ Tên   Email
   
Tiêu Đề Mã xác nhận




HÌNH ẢNH HOẠT ĐỘNG