Trang chủ    Tài liệu
   Văn học
SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM: VÀI KINH NGHIỆM RÈN HỌC SINH NẮM CHẮC NHỮNG KĨ NĂNG LÀM TỐT CÁC DẠNG BÀI TẬP DỌC HIỂU. - 09:13:31 PM | 03/04/2015
VÀI KINH NGHIỆM RÈN HỌC SINH NẮM CHẮC NHỮNG KĨ NĂNG LÀM TỐT CÁC DẠNG BÀI TẬP DỌC HIỂU.

 Mục lục

VÀI KINH NGHIỆM RÈN HỌC SINH NẮM CHẮC NHỮNG KĨ NĂNG LÀM TỐT CÁC DẠNG BÀI TẬP DỌC HIỂU.

 

A. DẪN NHẬP

        1. Đặt vấn đề

        2. Lí do chọn đề tài

       3. Phạm vi nghiên cứu, áp dụng của đề tài

       4. Phương pháp nghiên cứu

       5. Đối tượng nghiên cứu:

B. NỘI DUNG ĐỀ TÀI

   I. Cơ sở lí luận

   II. Cơ sở thực tiễn.

       1. Học sinh:

       2. Phụ huynh:

       3. Giáo viên:

   III. Giải pháp, kinh nghiệm

      1. Phụ huynh

      2. Học sinh

      3. Giáo viên

3.1. Rèn kĩ năng phát hiện lỗi sai và chữa lại

  3.2. Rèn kĩ năng viết đoạn trong phần đọc hiểu

3.3. Rèn kĩ năng khái quát, cảm nhận văn bản

3.4. Rèn kĩ năng những biện pháp nghệ thuật và tác dụng của những biện pháp nghệ thuật được sử dụng trong văn bản

 3.5. Rèn kĩ năng phát hiện thành phần trong nòng cốt câu

 3.6. Rèn kĩ năng về văn bản : kết cấu, đặt nhan đề, nêu chủ đề

             3.7. Rèn kĩ năng chọn đúng trong câu hỏi nhiều phương án lựa chọn

 3.8. Rèn kĩ năng làm bài tập dạng đúng – sai

 3.9. Rèn kĩ năng phát hiện, viết tự luận ngắn

 3.10. Rèn kĩ năng trích dẫn chứng

   IV. Kết quả nghiên cứu, kiểm nghiệm trong thực tiễn dạy học

C. KẾT LUẬN

D.  KIẾN NGHỊ

E. TÀI LIỆU THAM KHẢO

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

VÀI KINH NGHIỆM RÈN CHO HOC SINH NẮM CHẮC NHỮNG KĨ NĂNG LÀM CÁC DẠNG BÀI TẬP DỌC HIỂU.

A. DẪN NHẬP

        1. Đặt vấn đề

Hiện nay, các phương tiện thông tin, truyền thông nghe nhìn kĩ thuật số, internet… phát triển mạnh mẽ, văn hóa đọc đang ngày càng ít được quan tâm,  kỹ năng đọc hiểu văn bản của một số hoc sinh còn yếu, tư duy phân tích chưa sâu do ít và không đọc văn xuôi.  Cấu trúc đề thi tốt nghiệp năm học 2013-2014 môn ngữ văn đưa phần đọc hiểu giúp các em rèn luyện kỹ năng đọc hiểu tốt hơn, hạn chế việc ỷ lại có bài giảng của giáo viên hoặc tài liệu học tập. Chấm thi tại Đà Lạt, tôi thấy nhiều em không đọc kỹ và phân tích đúng các yêu cầu của câu hỏi. Trong nhiều đề thi khác, phần đọc hiểu có nội dung yêu cầu "viết đoạn văn" mà nhiều học sinh viết thành nhiều đoạn văn, cả bài văn.

Bộ ra đề theo hướng tránh học tủ, học "vẹt" và chủ trương chấm theo hướng mở. Các vấn đề xã hội đi kèm văn học tạo cảm xúc, sáng tạo, rèn kĩ năng sống cho học sinh đưa môn văn áp dụng vào cuộc gần hơn một chút nữa. Các câu hỏi được lồng ghép vào từng phần của phần đọc hiểu và phần làm văn. Mỗi phần đều yêu cầu học sinh trình bày quan điểm, chính kiến cá nhân về vấn đề thời sự, xã hội... đề quan tâm  tư duy xã hội, kỹ năng trình bày, lập luận... Đề trích dẫn một phần ít của một đoạn kịch dẫn đến tình trạng học sinh không biết viết gì nưa, bài làm ngắn chung chung ngoài vài ý cơ bản vì chưa có kỹ năng phân tích chiều sâu một khía cạnh vấn đề. Điểm yếu là làm văn theo đề tích hợp nghị luận văn học và  nghị luận xã hội. Sự kết hợp giữa hai phần này chưa hợp lý, nhập nhằng nên khó đạt điểm tối đa.

        2. Lí do chọn đề tài

Nhận thức, kĩ năng, tình cảm của học sinh thể hiện rõ qua môn Ngữ văn. Các đề thi ngày càng hướng đến  kiểm tra năng lực, bày tỏ quan điểm bản thân, tri thức về đời sống chính trị, xã hội, kĩ năng cơ bản cho học sinh trong việc tạo lập văn bản.

            Việc rèn kĩ năng làm tốt các dạng bài đọc hiểu của nhiều học sinh Trường THPT  Thăng Long – Lâm Hà còn gặp khó khăn. Nguyên nhân do năng lực lập ý, dựng đoạn, lập luận, tạo bố cục cho bài văn và cách tư duy để triển khai một cách mạch lạc những ý tưởng, khả năng ứng dụng văn học vào đời sống, kĩ năng đọc hiểu, nghị luận xã hội của các em còn hạn chế. Môi trường sống đang tác động vào tư tưởng, tình cảm liên quan đến những vấn đề chính trị, xã hội. Mặt khác, thời lượng chương trình rất ít thời gian cho các bài tập đọc hiểu rèn tư duy phán đoán, viết nhanh cho các em học sinh, một vài giáo viên còn lúng túng trong việc ra các dạng đề đọc hiểu tích hợp các phân môn Đọc văn, Tiếng Việt và Làm văn

Từ thực tế đề thi tốt nghiệp năm học 2013-2014, sự cải cách đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục trong đó có kiểm tra đánh giá và thi cử, chúng tôi thấy thực sự cần thiết cho học sinh của mình cần phải RÈN CHO HOC SINH NẮM CHẮC CÁC KĨ NĂNG LÀM TỐT CÁC DẠNG BÀI TẬP DỌC HIỂU trong các bài tập, đề thi….

       3. Phạm vi nghiên cứu, áp dụng của đề tài

Trong đề tài này, người viết chủ yếu quan tâm đến việc RÈN CHO HOC SINH NẮM CHẮC CÁC KĨ NĂNG LÀM TỐT CÁC DẠNG BÀI TẬP DỌC HIỂU trong các bài tập, đề thi môn Ngữ Văn cùng với cách thức vận dụng đề tài. Còn những hạn chế khác, chúng tôi sẽ bàn cách khắc ở những dịp sau.

       4. Phương pháp nghiên cứu

- Phương pháp phân tích

- Phương pháp hỏi- đáp

- Phương pháp tổng hợp, thống kê

- Nghiên cứu tài liệu

  5. Đối tượng nghiên cứu:

Học sinh khối 11 (11A1, 11B2, 11B3 năm học 2014-2015), khối 12 (12B6 năm học 2013-2014), 12B4 năm học 2014-2015)

B. NỘI DUNG ĐỀ TÀI

   I. Cơ sở lí luận

Dạy học theo chuẩn KT-KN và dạy học tích hợp khai thác văn bản dựa vào đặc trưng thể loại ngày càng tạo được thái độ tích cực, niềm say mê cho học sinh trong trong việc chiếm lĩnh tri thức, rèn kĩ năng tạo lập văn bản, có kĩ năng đọc – hiểu các kiểu văn bản thuộc các thể loại văn học,  các em thường đọc từ sách báo hàng ngày. Nghị quyết  TW 2- khoá 2, Đảng xác định “Mục tiêu cơ bản của giáo dục là nhằm xây dựng những con người mới và thế hệ thiết tha gắn bó với lý tưởng dân tộc và chủ nghĩa xã hội, có đạo đức trong sáng, có ý chí kiên cường , xây dựng và  bảo vệ tổ quốc, thực hiện thành công sự nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước…làm cho trí thức khoa học  và công nghệ hiện đại, có tư duy sáng tạo, có kỹ năng thực hành giỏi, có tác phong công nghiệp” . Giáo dục là đào tạo con người toàn diện để đáp ứng yêu cầu công nghiệp hoá và hiện đại hoá đất nước hiện nay.  Nâng cao chất lượng, hiệu quả giáo dục học tập của học sinh là  nhiệm vụ khó khăn cần thầy cô giáo, Ban giám hiệu, hội phụ huynh học sinh kết hợp để có giải pháp cụ thể.   

Chúng ta căn cứ vào những nghiên cứu về phương pháp học: có thể giúp chúng ta ghi nhớ được đến 90% kiến thức đã được học gồm sáu bước: Nghe giảng 5%; Đọc hiểu 10%; Nghe nhìn 20%; Thảo luận nhóm 50%;  Thực hành thực tế: Làm bài ở nhà, ghi lại, viết cảm nhận về vấn đề mình đã học 75%;  Dạy người khác 90%. Mục tiêu đổi mới phương pháp dạy học Ngữ văn làm tăng tính tích cực của học sinh về tư duy đọc – hiểu văn bản, chiếm lĩnh tri thức khoa hoc, hạn chế được lỗi viết lủng củng, lập luận không chặt chẽ, luận điểm không rõ ràng, giải quyết những nhiệm vụ được đặt ra trong văn bản và trong cuộc sống  để có sự hài hòa giữa tri thức và kỹ năng sống phù hợp với vấn đề đổi mới phương pháp dạy học Ngữ văn hiện nay

   II. Cơ sở thực tiễn.

Từ kinh nghiệm của bản thân, chúng tôi giúp các em chỉ ra cho học sinh kĩ năng nắm được kiến thức vững vàng để làm các dạng đề thi có phần đọc hiểu đạt hiệu quả, tạo cho học sinh  sự say mê,  tự tin và cố gắng học tốt môn văn.  Những năm học vừa qua, Trường THPT  Thăng Long – Lâm Hà phụ đạo miễn phí cho học sinh yếu kém môn văn, sự cố gắng tận tâm của thầy, sự phấn đấu của mình của trò, kết quả học tập môn ngữ văn năm học 2014-2015 có tiến bộ rõ rệt so với các năm trước từ 2010 - 2014. Đó là một điều đáng mừng, vì vậy chúng tôi quyết định chọn đề tài: RÈN CHO HOC SINH NẮM CHẮC CÁC KĨ NĂNG ĐỂ LÀM TỐT CÁC DẠNG BÀI TẬP DỌC HIỂU và ghi lại một số kinh nghiệm nho nhỏ mà tôi đã  vận dụng và đạt kết quả  tương đối khả quan. Mong rằng những kinh nghiệm này sẽ phần nào sẽ giúp ích  cho đồng nghiệp và các em học sinh để học tập tốt hơn.

       1. Học sinh:

            Trường THPT  Thăng Long – Lâm Hà  còn một bộ phận không nhỏ học sinh  yếu môn văn do các em tiếp thu bài chậm nên chán học, không năm chắc các kĩ năng làm bài tập đọc hiểu nên bị điểm thấp, không có phương pháp học tốt nên khó tiếp thu bài. Đa số phụ huynh học sinh  hướng cho con em mình học các môn khoa học tự nhiên bỏ qua các môn xã hội, không thèm quan tâm.  Các em lười  soạn bài, học bài, làm bài tập nghị luận văn học và xã hội khi kiểm tra tập trung trái buổi của tổ Văn – Địa thường hay bị điểm kém. Một số học sinh có điều kiện  học tập  đầy đủ, thoải mái nhưng được nuông chiều, bản thân các em học yếu. Trường có một số lớp như lớp 12B4 có nhiều em bỏ học, cúp tiết trong cả ba môn: Toán – Văn - Anh văn cả 10 em / môn/ buổi, học chính khóa các em vắng 37 lượt trong đó có 22 lượt không có phép (theo thống kê của BCH Đoàn trường tuần 24 năm học 2014-2015). Nhiều em không làm bài tập không  học bài, ham chơi, chưa có thái độ, ý thức được việc học một cách tích cực. Nhiều em còn thiên về học thuộc lòng mà chưa hiểu, chưa nắm vững bài  thiếu  kỹ năng viết  văn, làm bài tập nghị luận và phần đọc hiểu trong các dạng đề thi. Một số em gia đình nghèo nên các em  phải lao động giúp gia đình nên có ít thời gian để vươn lên trong học tập các môn yếu trong đó có môn văn.

       2. Phụ huynh:

Một số phụ huynh chưa phối hợp giáo dục con em, chưa quan tâm, chăm lo và đôn đốc con em mình học tập, còn phó thác cho nhà trường, còn học sinh ham chơi, đua đòi, nghiện game. Gia đình vùng sâu vùng xa đi lại khó khăn, kinh tế gia đình còn nghèo khó.

       3. Giáo viên:

            Giáo viên không có nhiều thời gian để quan tâm chu đáo đến tất cả các đối tượng học sinh cũng như rèn các kĩ năng làm bài đọc hiểu, phương pháp giảng dạy còn chưa thực sự phù hợp với tất cả các đối tượng học sinh (học sinh yếu kém thường nhút nhát và hay nghịch phá phách, chán học, sợ học vì vậy mất nhiều thời gian nhắc nhở). Giáo viên cũng rất tận tụy, nhiệt tình với công tác giảng dạy, quan tâm thương yêu học sinh.  Việc sử dụng Công nghệ thông tin còn hạn chế, chưa xử lý hết các tình huống trong tiết dạy, khả năng tổ chức giờ học theo nhóm đối tượng còn hạn chế. Còn một vài giáo viên chưa động viên tuyên dương kịp thời khi HS có một biểu hiện tích cực hay có sáng tạo nhỏ.  Có giáo viên lúng túng, chưa mạnh dạn tìm các giải pháp mạnh giải quyết vấn đề chất lượng học tập của HS, xã hội và các em xem nhẹ môn văn.

   III. Giải pháp, kinh nghiệm

Từ cơ sở lí luận, cơ sở thực tiễn, cũng như thực trạng và phân tích nguyên nhân, từ cơ sở thực tế cùng với kiến thức tự bồi dưỡng, qua góp ý của đồng nghiệp tôi mạnh dạn đưa ra giải pháp như sau:

   1. Phụ huynh:

Thông qua Ban giám hiệu, Giáo viên chủ nhiệm hoặc trực tiếp viết giấy mời, gọi điện để liên hệ với phụ huynh học sinh tra đổi  và yêu cầu họ phải kiểm tra, giám sát, giúp đỡ con em học tập, chuẩn bị bài ở nhà, đôn đốc, động viên con em đi học chuyên cần, đấy đủ.  Thường xuyên theo dõi, kiểm tra bài vở của con em mình, liên hệ với giáo viên chủ nhiệm để nắm được tình hình học tập, tìm biện pháp tốt nhất cho con em mình học tập.

       2. Học sinh:

            Giáo viên yêu cầu học sinh phải học bài, làm bài, chuẩn bị bài trước khi đến lớp. Khi học, học sinh được yêu cầu phải tập trung nghe thầy cô giáo giảng bài, tích cực tham gia xây dựng bài, đi học đầy đủ chuyên cần các buổi học bù, học trái buổi, học phụ đạo. Giáo viên kết hợp cùng phân tích cho học sinh xác định động cơ học tập  để có kiến thức, để làm người, để hoà nhập, để chiếm lĩnh và có tri thức, để lập thân, lập nghiệp.  Rèn cho các em có kĩ năng sử dụng thành thục thao tác lập luận, hiểu biết kết cấu bài văn và các yếu tố thuộc về diễn đạt dùng từ, đặt câu… để sử dụng đúng, hiệu quả.

      3. Giáo viên

            Kế hoạch giảng dạy thích hợp sẽ nâng cao chất lượng học tập, khắc phục hạn chế những lỗi thường gặp để các em củng cố kiến thức, đạt được điểm tốt đa phần đọc hiểu trong các bài kiểm traNhững học sinh yếu cần được  tiếp xúc, tìm hiểu nguyên nhân, nắm hoàn cảnh gia đình để tác động kịp thời và phương  pháp giảng dạy thích hợp.  Giáo viên nhiệt tình gần gũi, yêu thương học sinh giúp các em có kĩ năng làm văn phần đọc hiểu, cần đầu tư soạn giảng để các em dễ tiếp thu, dễ hiểu, sử dụng những  phương pháp dạy học mới, linh hoạt phù hợp với trình độ các em, tạo ra sự lôi cuốn sự hấp dẫn  các em trong giờ văn có phần đọc hiểu.

            Giáo viên chú ý đến các em học yếu, phát hiện những tiến bộ để tuyên dương khen thưởng trước lớp khuyến khích các em. Trong giờ học, ôn tập, giáo viên tiến hành các hình thức phong phú: trao đổi  thảo luận, trắc nghiệm, điền khuyết, viết đoạn, đặt tiêu đề…. nhằm tạo cho các em  không khí  phấn chấn  thi đua học tập. Phân công một học sinh giỏi kèm học sinh  yếu, kết hợp GVCN qua VNPT School báo cáo tình hình học tập của các em với gia đình để gia đình nhắc nhở, giáo dục các em. Về phần đọc hiểu, chúng tôi chủ yếu đi sâu rèn các kĩ năng sau để các em được điểm cao phần đọc hiểu.

        3.1. Rèn kĩ năng phát hiện lỗi sai và chữa lại

Giáo viên có thể phân loại các em theo từng nhóm đối tượng  yếu– kém kĩ năng làm văn phần đọc hiểu,  in và cho học sinh phô tô làm các dạng đề thi đọc hiểu bổ sung phương pháp phân tích cảm thụ, kĩ năng lập luận dựng đoạn, kĩ năng về dùng từ, diễn đạt, diễn cảm. Đề thường cho một đoạn văn có sai sót và cho học sinh nhận biết từ đó trả lời các câu hỏi. Giáo viên cho học sinh làm nhiểu bài tập để thành thục xác định các lỗi trong văn bản.

Các lỗi sai trong văn bản gồm: Lỗi chính tả ( lỗi do phát âm; lỗi do không nắm vững quy tắc chính tả ). Lỗi về từ (lặp từ; từ không đúng nghĩa; từ không phù hợp phong cách),  Lỗi về câu (lỗi cấu tạo câu; lỗi dấu câu; lỗi liên kết câu). Lỗi đoạn văn (lỗi về nỗi dung; lỗi về hình thức).  Trong một văn bản không chỉ có một loại lỗi mà thường xuất hiện đồng thời nhiều loại lỗi. Các em đọc kỹ, tìm hiểu các ví dụ trong từng đề mục, trả lời câu hỏi bằng bút chì theo cách hiểu của em,  ghi chú phần khó hiểu để lắng nghe thầy cô giảng giải, chịu khó suy nghĩ, tìm hiểu các ví dụ thầy cô các bạn đưa ra để phát hiện lỗi sai và chữa lại. 

Ví dụ:  Trong kì thi Tốt nghiệp phổ thông 2011, đề thi về bài Tây Tiến của Quang Dũng, có học sinh viết như sau:

           “Tây Tiến là một địa danh nổi tiếng ở miền tây, Quang Dũng đi bộ đội vào miền Nam, sau đó ra miền bắc rồi về miền tây nam bộ rồi lại ra miền tây. Quang Dũng kêu gọi các học sinh sinh viên Hà Nội lênh đường đánh giặc và bản thân ông làm tướng công công đồn dũng sĩ giết sách bọn giặc giả mang tàn nhẫn, quét sạch luôn bọn phong kiến ác ôn”.

Chỉ ra những chỗ sai:

Câu a:  Sai kiến thức trầm trọng, diễn đạt rối rắm lung tung, suy diễn tùy tiện, không nắm được văn bản, sai nhiều ngữ pháp, lối viết ngớ ngẩn tư duy mơ hồ, phạm nhiều lỗi chính tả

 + Lỗi chính tả: lênh đường = lên đường, giả mang = dã man, giết sách = giết sạch…

 + Sai  quá nhiều về kiến thức: tướng công công, địa danh nổi tiếng ở miền tây….

Kỹ năng xác định lỗi trong đoạn văn bản: Nhắc học sinh đọc kỹ văn bản để xác định nội dung và thể loại, phong cách văn bản. Phân tích cấu tạo câu (các thành phần của câu).  Xem xét vị trí các câu và sự liên kết câu trong văn bản.  Xem xét về lỗi chính tả và cách sử dụng từ ngữ.

         Có thể chữa lại:  “Tây Tiến là tên một đơn vị bộ đội được thành lập năm 1947, địa bàn hoạt động của Tây Tiến khá rộng bao gồm các tỉnh Sơn La, Lai Châu, Hòa Bình. ..Chiến sĩ Tây Tiến phần đông là thanh niên học sinh Hà Nội, họ  sống chiến đấu trong hoàn cảnh gian khổ, ngày đó Quang Dũng là đại đội trưởng…

- Cách phát hiện lỗi sai : Với hình thức hỏi như trên, sau khi đã đọc kỹ văn bản, xác định được cấu tạo câu và sự liên kết câu cũng như thể loại, phong cách ngôn ngữ và hình thức chính tả và cách trình bày,cách dùng từ , chữ viết..

       3.2. Rèn kĩ năng viết đoạn trong phần đọc hiểu

Giáo viên rèn cho các em kĩ năng ghi chép đầy đủ, chính xác để ứng dụng vào việc dùng từ, đặt câu, viết văn bản và tìm hiểu giá trị nghệ thuật, nội dung của bài thơ. Cần viết được các đoạn văn có các yêu cầu về ngữ pháp. Biết liên hệ với các bài văn, thơ đã học, đọc thêm để tìm thêm ví dụ có liên quan,  dùng từ, đặt câu, viết đoạn văn, dùng các biện pháp tu từ và diễn đạt ý trong sáng, giàu sức biểu cảm hơn. Đọc thêm tài liệu tham khảo để khắc sâu, mở rộng kiến thức.

Giáo viên tranh thủ thời gian để rèn kĩ năng viết đoạn cho học sinh đảm bảo thời gian phù hợp, đủ các ý cơ bản, có dẫn chứng minh họa. Ví dụ:

Bà lão cúi đầu nín lặng. Bà lão hiểu rồi. Lòng người mẹ nghèo khổ ấy còn hiểu ra biết bao nhiêu cơ sự, vừa ai oán vừa xót thương cho số kiếp đứa con mình. Chao ôi, người ta dựng vợ gả chồng cho con là lúc trong nhà ăn nên làm nổi, những mong sinh con đẻ cái mở mặt sau này. Còn mình thì... Trong kẽ mắt kèm nhèm của bà rủ xuống hai dòng nước mắt... Biết rằng chúng nó có nuôi nổi nhau sống qua được cơn đói khát này không?  ( Trích Vợ nhặt-Kim Lân)

a. Từ văn bản, viết đoạn văn bày tỏ suy nghĩ về tình mẫu tử.

Trả lời:  Câu a: Đoạn văn cần đảm bảo các ý:

- Dẫn ý bằng chính dòng độc thoại nội tâm xúc động của bà cụ Tứ.

- Tình mẫu tử gì? Biểu hiện của tình mẫu tử?

- Ý nghĩa của tình mẫu tử?

- Phê phán những đứa con bất hiếu với mẹ và nêu hậu quả.

- Bài học nhận thức và hành động?

       3.3. Rèn kĩ năng khái quát, cảm nhận văn bản

Nhận biết nội dung chính và các thông tin quan trọng của văn bản; hiểu ý nghĩa của văn bản, tên văn bản. Học sinh cần nắm vững những kiến thức về văn bản. Nắm đặc điểm diễn đạt và chức năng của các phong cách ngôn ngữ. Học sinh tìm đọc những bài văn hay cùng chủ đề, để học cách viết, chú ý quan sát con người, sự vật, cảnh quan xung quanh mình. Cần đọc nhiều, viết nhiều để có vốn từ, vốn sống, tách đoạn hợp lý, có liên kết câu và liên kết đoạn văn để bài văn rõ ràng chặt chẽ. Đọc lại bài văn, sửa lỗi chính tả, lỗi dùng từ, lỗi viết câu. Đọc kỹ đoạn văn bản của đề ra. Tìm nội dung và gạch dưới những từ ngữ nào được lặp đi lặp lại nhiều lần.                  

Ví dụ văn bản:    XA XỨ

Em tôi học đến kiệt sức để có một suất du học. 

Thư đầu viết: “Ở đây, đường phố sạch đẹp, văn minh bỏ xa lắc nước mình …”

Cuối năm viết: “Mùa đông bên này tĩnh lặng, tinh khiết như tranh, thích lắm …”

Mùa đông sau viết: “Em thèm một chút nắng ấm quê nhà, muốn được đi giữa phố xá bụi bặm, ồn ào, nhớ bến chợ xôn xao, lầy lội … Biết bao lần trên phố, em đuổi theo một người châu Á, để hỏi coi đó có phải là người Việt không …”.    (Sưu tầm từ Internet)

Sử dụng những thông tin trong câu chuyện trên để tả lời những câu hỏi sau:

Câu hỏi: Người kể câu chuyện trên có phải chỉ nhằm nói tới sự thay đổi cảm xúc của người em ở  những thời điểm khác nhau khi xa quê hương hay còn nhằm tới một ý nghĩa nào khác?       

ĐÁP ÁN

+ Tình yêu quê hương xứ sở là một tình cảm có khi phải đặt trong hoàn cảnh thử thách cụ thể, phải được trải nghiệm qua thời gian mới nhận ra được trong mỗi con người.

+ Tình yêu quê hương xứ sở không tỉ lệ thuận với những giá trị văn minh vật chất mà nó tỉ lệ thuận với những gì gắn bó thân thuộc đã trở thành kí ức, kỉ niệm nằm sâu trong trái tim của mỗi con người.

+ Tình yêu quê hương là một trong những yếu tố tạo nên nhân cách và giá trị đạo đức của con người.

+ Phê phán hiện tượng vọng ngoại, chỉ coi trọng giá trị vật chất mà coi nhẹ tình cảm cội nguồn. Nhắc nhở mỗi người cần coi trọng tình cảm quê hương xứ sở.

        3.4. Rèn kĩ năng những biện pháp nghệ thuật và tác dụng của những biện pháp nghệ thuật được sử dụng trong văn bản

Nhận diện những biện pháp nghệ thuật trong đoạn văn bản và tác dụng của những biện pháp nghệ thuật đó với việc thể hiện nội dung văn bản. Giúp học sinh xác định được các lỗi như ; Chọn sai từ là chọn từ mà nghĩa của nó không phù hợp với nội dung muốn biểu đạt. Giữa nội dung muốn biểu đạt với nghĩa của từ được dùng ; Giữa giá trị phong cách của từ được dùng với phong cách ngôn ngữ văn bản. Từ, ngữ sai phong cách ngôn ngữ văn bản là những từ, ngữ mà giá trị phong cách của nó không phù hợp với phong cách ngôn ngữ văn bản. Kết hợp trùng lặp là hiện tượng lặp đi lặp lại một cách tự phát và không cần thiết những từ, ngữ nào đó trong câu.  So sánh khập khễnh là loại lỗi kết hợp, trong đó đối tượng được so sánh và đối tượng dùng để so sánh không có dấu hiệu tương đồng hay dấu hiệu tương đồng không tiêu biểu.

VD : Đọc văn bản trên và trả lời các câu hỏi sau:

Vợ Trương Ba: Ông ở đâu? Ông ở đâu?

(Giữa màu xanh cây vườn, Trương Ba chập chờn xuất hiện.)

Trương Ba: Tôi đây bà ạ. Tôi vẫn ở liền ngay bên bà đây, ngay trên bậc cửa nhà ta, trong ánh lửa bà nấu cơm, cầu ao bà vo gạo, trong cái cơi bà đựng trầu, con dao bà giẫy cỏ…Không phải mượn thân ai cả, tôi vẫn ở đây, trong vườn cây nhà ta, trong những điều tốt lành của cuộc đời, trong mỗi trái cây cái Gái nâng niu…   (Dưới một gốc cây, hiện lên cu Tị và cái Gái)

Cái Gái: (tay cầm một trái na) Cây na này ông nội tớ trồng đấy! Quả to mà ngon lắm! Ta ăn chung nhé!   (Bẻ quả na đưa cho cu Tị một nửa. Đôi trẻ ăn ngon lành. Cái Gái lấy những hạt na vùi xuống đất.)

Cu Tị: Cậu làm gì thế?

Cái Gái: Cho nó mọc thành cây mới. Ông nội tớ bảo vậy. Những cây sẽ nối nhau mà lớn khôn. Mãi mãi…”   (Tuyển tập kịch Lưu Quang Vũ, NXB Sân Khấu, Hà Nội, 1994)

     a. Xác định các dạng phép điệp trong văn bản và nêu hiệu quả nghệ thuật của các dạng đó ?

     b. Việc dùng các từ ngữ: màu xanh, những điều tốt lành của cuộc đời, nối nhau mà lớn khôn, Mãi mãi hiệu quả diễn đạt như thế nào ?

     Học sinh ôn lại kiến thức về các biện pháp tu từ từ , tu từ về câu và tác dụng của các biện pháp tu từ khi được sử dụng trong văn bản như: So sánh là đối chiếu sự vật này với sự vật khác có nét tương đồng nhằm tăng sức gợi hình biểu cảm. Ẩn dụ là gọi tên sự vật hiện tượng khác có nét tương đồng nhằm tăng sức gợi hình gợi cảm.  Nhân hóa là cách gọi tả vật, đồ vật... bằng những từ ngữ vốn dùng cho con người làm cho thế giới vật, đồ vật ... trở nên gần gũi biểu thị được những suy nghĩ tình cảm của con người.

- Hoán dụ: gọi tên sự vật hiện tượng khái niệm khác có quan hệ gần gũi với nó. Nói quá: Biện pháp tu từ phóng đại mức độ qui mô tính chất của sự vật hiện tượng được miêu tả để nhấn mạnh gây ấn tượng tăng tính biểu cảm.

- Nói giảm nói tránh là dùng cách diễn đạt tế nhị uyển chuyển tránh gây cảm giác phản cảm và tránh thô tục thiếu lịch sự. Điệp ngữ: lặp lại từ ngữ hoặc cả câu để làm nối bật ý gây cảm xúc mạnh. Chơi chữ: Cách dựa vào những đặc sắc về âm và về nghĩa của từ ngữ để tạo sắc thái dí dỏm hài hước. Ôn, nắm vững các đặc điểm về cách cách gieo vần, phối thanh, ngắt nhịp …trong văn bản văn học. 

          3.5. Rèn kĩ năng phát hiện thành phần trong nòng cốt câu

Giáo viên rèn kĩ năng phát hiện thành phần trong nòng cốt câu, dùng từ ngữ khai triển các ý trong bài chính xác, viết câu đúng ngữ pháp. Xác định mối quan hệ ngữ pháp (các câu và các thành phần phụ của câu trong đoạn văn bản).

 VD1: Các phần in nghiêng được gọi là gì ?

a. Quan, người ta sợ cái uy của quyền thế. Nghị lại, người ta sợ cái uy của đồng tiền.

        Đáp án: Khởi ngữ

b.    Giáo  dục  tức  là  giải  phóng.  Nó  mở  ra  cánh  cửa  dẫn đến  hòa  bình,  công bằng và công lí. Những người nắm giữ chìa khóa của cánh cửa này – các thầy, cô giáo, các  bậc  cha  mẹ, đặc  biệt  là  những  người  mẹ  -  gánh  một  trách  nhiệm  vô  cùng quan trọng, bởi vì cái thế giới mà chúng ta để lại cho các thế hệ mai sau sẽ tùy thuộc vào những trẻ em mà chúng ta để lại cho thế giới ấy.

           Đáp án: Phần phụ chú

c.  Tiếng kêu của nó như tiếng xé, xé sự im lặng và xé cả ruột gan mọi người, nghe thật xót xa.

           Đáp án: Phần phụ chú

d.  Trong những hành trang ấy, có lẽ sự chuẩn bị bản thân con người là quan trọng nhất.

           Đáp án: thành phần biệt lập tình thái

e.  Ông cứ đứng vờ vờ xem tranh ảnh chờ người khác đọc rồi nghe lỏm. Điều này ông khổ tâm hết sức.            

Đáp án: Khởi ngữ

VD2: Cho ngữ liệu sau:

                  Cúng mẹ và cơm nước xong, mấy chị em, chú cháu thu xếp đồ đạc dời nhà. Chị Chiến ra đứng giữa sân, kéo cái khăn trên cổ xuống, cũng xắn tay áo để lộ hai bắp tay tròn vo sạm đỏ màu cháy nắng, rồi dang cả thân người to và chắc nịch của mình nhấc bổng một đầu bàn thờ má lên. Việt ghé vào một đầu. Nào, đưa má sang ở tạm bên nhà chú, chúng con đi đánh giặc trả thù cho ba má, đến chừng nước nhà độc lập con lại đưa má về. Việt khiêng trước. Chị Chiến khiêng bịch bịch phía sau. Nghe tiếng chân chị, Việt thấy thương chị lạ. Lần đầu tiên Việt mới thấy lòng mình rõ như thế. Còn mối thù thằng Mĩ thì có thể rờ thấy được, vì nó đang đè nặng ở trên vai…     (Trích Những đứa con trong gia đình - Nguyễn Thi)

         Xác định kiểu câu của mỗi câu trong đoạn văn trên theo cấu tạo ngữ pháp?

- Câu (1), (2), (3), (5), (6), (7), (8), (9): câu đơn       Câu (4): ghép

        3.6. Rèn kĩ năng về văn bản : kết cấu, đặt nhan đề, nêu chủ đề

Các em học bài, nắm dẫn chứng trong truyện.Viết các đoạn văn cảm nhận, làm các bài tập của thầy cô. Đọc tài liệu tham khảo để mở rộng, khắc sâu kiến thức. Học sinh cần ý thức học tập, học và làm bài đầy đủ, đọc thêm sách, báo, tư liệu để huy động thêm kiến thức tham khảo. Giáo viên tận dụng thời gian cho các em rèn các kĩ năng diễn đạt, tìm kết cấu, đặt nhan đề, nêu chủ đề…. Cho văn bản  theo sự hiểu biết của mình. Học sinh rèn cách diễn đạt, tập cách dùng từ và viết văn với sự tự giác, nhận thức được tầm quan trọng của bộ môn, yêu thích và nhớ những  câu thơ đoạn văn hay để làm tư liệu khi làm bài. Thời khoá biểu học tập ở nhà hợp lý dành nhiều thời gian cho những bộ môn mình còn đang yếu kém, phấn đấu tin vào bản thân, không ỷ lại vào thầy cô và bạn bè. Học sinh chú trọng đến việc rèn luyện đạo đức, nhân cách, chấp hành tốt nội quy.  Bố cục của các văn bản này về cơ bản đều có 3 phần: nêu vấn đề, giải quyết vần đề, kết thúc vấn đề

Thử đặt tên nhan đề và nêu ngắn gọn chủ đề văn bản.

      Ví dụ:   Một đàn ếch đi qua khu rừng nhỏ, bỗng nhiên hai con bị rơi xuống hố. Những con ếch còn lại nhìn  xuống xem hố sâu như thế nào rồi bảo với hai con ếch rằng chúng sẽ chết thôi... 

Hai con ếch bỏ ngoài tai mọi lời bình và cố hết sức có thể để nhảy ra khỏi cái hố sâu. Lũ ếch ở trên thì vẫn cứ bảo chúng đừng cố sức, tốt hơn là ngồi ở dưới chờ chết, để khỏi bị thương. Cuối cùng, một con ếch đã nản chí nghe theo. Nó rơi xuống và chết. Còn con ếch kia vẫn tiếp tục nhảy ra ngoài. Lũ ếch ở trên không ngừng la hét bảo con ếch dừng lại. Nhưng con ếch vẫn cố gắng hết sức, thậm chí còn nhảy mạnh hơn. Cuối cùng nó nhảy được ra khỏi hố. Khi nó nhảy ra ngoài, lũ ếch hỏi: “Anh không nghe thấy chúng tôi kêu gào à?”. Con ếch giải thích rằng tai nó bị điếc. Nó nghĩ là những con ếch ở trên đang cổ vũ cho mình. 

      - Nhan đề gợi ý: Quyền lực của lời nói

      - Chủ đề gợi ý: 

            a. Quyền lực của sự sống và cái chết nằm ở miệng lưỡi con người. Những lời cổ vũ, động viên ai đó đang gặp khó khăn, sa cơ lỡ vận sẽ giúp họ vượt qua và đứng vững, đôi khi cứu sống một mạng người. Những lời lẽ tiêu cực, không mang tính xây dựng sẽ khiến họ gục ngã, có thể giết chết họ. 

            b. Có những điều chúng ta không nên nghe thì tốt hơn. Có những lúc chúng ta nên điếc.

      3.7. Rèn kĩ năng chọn đúng trong câu hỏi nhiều phương án lựa chọn

Giáo viên tập cho học sinh có thói quen đọc tác phẩm kỹ càng để tự cảm nhận và  gạch chân và ghi lại những đoạn hay của tác phẩm.  Thói quen đọc thuộc  tác phẩm, ghi nhớ, suy ngẫm tác phẩm, những câu đoạn mà mình tâm đắc nhất, liên tưởng, liên hệ với những vấn đề, những tác phẩm khác có liên quan đến những giá trị cơ bản trong tác phẩm đang học, lật đi lật lại những vấn đề quan trọng khi cảm nhận phân tích tác phẩm. Cảm nhận tác phẩm theo nhiều chiều, nhiều khía cạnh không máy móc thụ động, tập trung suy nghĩ, phát hiện phương án lựa chọn đúng nhất trong nhiều phương án mồi nhử.

NHỚ CON SÔNG QUÊ HƯƠNG

                        Tế Hanh

Quê hương tôi có con sông xanh biếc

Nước gương trong soi tóc những hàng tre
Tâm hồn tôi là một buổi trưa hè
Tỏa nắng xuống lòng sông lấp loáng.

Chẳng biết nước có giữ ngày, giữ tháng
Giữ bao nhiêu kỉ niệm của dòng trôi?
Hỡi con sông đã tắm cả đời tôi!
Tôi giữ mãi mối tình mới mẻ

Sông của quê hương, sông của tuổi trẻ
Sông của miền Nam nước Việt thân yêu

Khi bờ tre ríu rít tiếng chim kêu
Khi mặt nước chập chờn con cá nhảy

Bạn bè tôi tụm năm tụm bảy
Bầy chim non bơi lội trên sông

Tôi giơ tay ôm nước vào lòng
Sông mở nước ôm tôi vào dạ.
…                                (1956

1. Tế Hanh là nhà thơ trưởng thành:

   a. Trong kháng chiến chống Pháp                         

   b. Trong phong trào Thơ mới

   c. Trong kháng chiến chống Mỹ                                       

   d. Sau khi đất nước thống nhất

2. Đoạn thơ trên có nội dung:

   A. Thể hiện nỗi nhớ về những kỉ niệm tuổi thơ.                    

   C. Ca ngợi vẻ đẹp của quê hương đất nước.

   B. Thể hiện nỗi nhớ về con sông quê hương với              

   D. Tình cảm thiết tha sâu nặng đối với quê hương, những kỉ niệm tuổi thơ.

3. Từ “ lấp loáng” trong câu thơ “Tỏa nắng xuống lòng sông lấp loáng” thuộc loại:

    A. Từ ghép đẳng lập          

    B. Từ ghép chính phụ                    

    C. Từ láy                            

    D. Từ đơn

4. Từ láy “ríu rít” trong câu thơ: “Khi bờ tre ríu rít tiếng chim kêu” gợi tả:

   A. Hình ảnh                                    

   B. Âm thanh                                   

   C. Cảm xúc             

   D. Cảm giác

     3.8. Rèn kĩ năng làm bài tập dạng đúng – sai

             Giáo viên nhắc các em đọc kỹ văn bản và phần chú thích để chia bố cục,  gạch dưới từ ngữ, câu trong văn bản nếu cần và  nên tìm đọc trọn tác phẩm có đoạn trích học ở trên lớp. Các em tóm tắt truyện: cốt truyện, tên nhân vật, địa danh…  Học sinh tập trung nghe giảng để  cảm nhận cái hay, cái đẹp của tác phẩm, chịu khó suy nghĩ, tìm câu trả lời đúng – sai phù hợp nhất. Tích cực phát biểu ý kiến giúp các em trau dồi vốn ngôn ngữ, rèn luyện kỹ năng nói và sự tự tin.  Ghi chép bài đầy đủ, chính xác chó ý cả phần so sánh, đối chiếu, mở rộng nâng cao, lời bình của thầy cô… Gạch dưới từ ngữ đặc sắc, phép tu từ… trong thơ, câu văn hay dẫn chứng trong truyện. Nắm được giá trị nghệ thuật nội dung của tác phẩm ngay trong giờ học. 

VD: Đọc đoạn thơ sau và thực hiện các yêu cầu ở bên dưới:

 Mình về mình có nhớ ta

Mười lăm năm ấy thiết tha mặn nồng

Mình về mình có nhớ không

Nhìn cây nhớ núi, nhìn sông nhớ nguồn

 - Tiếng ai tha thiết bên cồn

Bâng khuâng trong dạ bồn chồn bước đi

Áo chàm đưa buổi phân li

Cầm tay nhau biết nói gì hôm nay

              (Việt Bắc-Tố Hữu, Ngữ văn 12, Tập 1, trang 108, NXB Giáo dục – 2008)

Câu a:  Những thông tin sau đây về đoạn thơ trong bài thơ Việt Bắc đúng hay sai:

Thông tin

Đúng

Sai

Tác giả của bài thơ là một nhà thơ trong phong trào Thơ mới.

 

 

Tác giả của bài thơ là một trong những lá cờ đầu của nền văn nghệ cách mạng Việt Nam.

 

 

Bài thơ được viết theo thể thất ngôn.

 

 

Bài thơ chỉ gieo vần chân.

 

 

Bài thơ thuộc phong cách ngôn ngữ chính luận.

 

 

     3.9. Rèn kĩ năng phát hiện, viết tự luận ngắn

              Học sinh cần xác định đúng và trúng vấn đề, tạo tâm thế cho người đọc tiếp nhận bài viết, tạo tâm thế hứng khởi, thiện cảm cho giám khảo, là nguồn cảm hứng để hoàn thành tốt những phần còn lại. Các em sẽ tránh được sự lan man, dài dòng, sa đà vào vấn đề khác dẫn đến xa đề hoặc lạc đề. Giáo viện rèn thao tác cần đọc thật kĩ đề bài, gạch chân những từ ngữ quan trọng để xác định cho trúng, ngắn gọn vấn đề nghị luận. Để viết tự luận ngắn  thành công, các em cần đọc kỹ đề, gạch chân từ ngữ quan trọng, xác định nội dung: tìm ý chính, ý phụ, ý lớn, ý nhỏ, ý đứng trước, ý đứng sau.  Sắp xếp các ý theo trình tự trước sau hợp lý, không thừa, thiếu ý.  Xác định được phần trọng tâm, phần không trọng tâm, phát biểu cảm nghĩ cần tự nhiên chân thành, tránh hô khẩu hiệu, liên hệ gượng ép, khiên cưỡng.

              Ví dụ văn bản: Mạo hiểm

“Đường đi khó, không khó vì ngăn sông cách núi mà khó vì lòng người ngại núi e sông. Xưa nay những đấng anh hùng làm nên những việc gian nan không ai làm nổi, cũng là nhờ cái gan mạo hiểm, ở đời không biết cái khó là cái gì[....]

Còn những kẻ ru rú như gián ngày, làm việc gì cũng chờ trời đợi số, chỉ mong cho được một đời an nhàn vô sự, sống lâu giàu bền, còn việc nước việc đời không quan hệ gì đến mình cả. Như thế gọi là sống thừa, còn mong có ngày vũng vẫy trong trường cạnh tranh này thế nào được nữa. Hãy trông những bọn thiếu niên con nhà kiều dưỡng, cả đời không dám đi đâu xa nhà, không dám làm quen với một người khách lạ; đi đường thì sợ sóng, trèo cao thì sợ run chân, cứ áo buông chùng đóng gót, tưởng thế là nho nhã, tưởng thế là tư văn; mà thực ra không có lực lượng, không có khí phách; hễ ra khỏi tay bảo hộ của cha mẹ hay kẻ có thế lực nào thì không có thể mà tự lập được.

Vậy học trò ngày nay phải tập xông pha, phải biết nhẫn nhục; mưa nắng cũng không lấy làm nhọc nhằn, đói rét cũng không lấy làm khổ sở. Phải biết rằng: hay ăn miếng ngon, hay mặc của tốt, hễ ra khỏi nhà thì nhảy lên cái xe, hễ ngồi quá giờ thì đã kêu chóng mặt,... ấy là những cách làm mình yếu đuối nhút nhát, mất hẳn cái tinh thần mạo hiểm của mình đi”.  (Nguyễn Bá Học, Mạo hiểm)

- Câu a: Nguyễn Bá Học đã phê phán những nỗi e sợ của kể học trò ? Kể tên 5 nỗi sợ được nhắc đến trong bài ?

......................................................................................................................................................................................................................................................................................................................
- Câu b: Những đức tính mà kẻ học trò cần phải có để vùng vẫy trong trường cạnh tranh?
......................................................................................................................................................................................................................................................................................................................
- Câu c: Trong những quyết định quan trọng nếu mạo hiểm bao giờ cũng có những rủi ro nhất định có thể thành công cũng có thể thất bại. Suy nghĩ của em?

……………………………………………………………………………………………………

……………………………………………………………………………………………………

……………………………………………………………………………………………………

    3.10. Rèn kỹ năng trích dẫn chứng

Mục đích của văn nghị luận là tác động, thuyết phục người đọc, người nghe. Để làm sáng tỏ vấn đề nghị luận thì cần đến lí lẽ và dẫn chứng. Nếu như lí lẽ là những giải thích, cắt nghĩa để hiểu vấn đề thì dẫn chứng là đưa ra chứng cứ để chứng minh cho vấn đề. Một bài văn nghị luận mà thiếu dẫn chứng thì sẽ không thuyết phục, người đọc sẽ không tin vào lí lẽ suông vì thiếu minh chứng.

      Dẫn chứng phải chính xác. Bài viết không có dẫn chứng thì không có sức thuyết phục, dẫn chứng không chính xác thì cũng chẳng có tác dụng. Nếu là thơ phải trích nguyên văn, nếu là văn xuôi thì tóm lược ý song phải đảm bảo tính chính xác của dẫn chứng bằng việc trích dẫn tên tác phẩm, tác giả...

      Dẫn chứng phải đủ trong phạm vi yêu cầu của đề về tư liệu. Có thể gọi đó là dẫn chứng bắt buộc. Khi lấy dẫn chứng mở rộng có nghĩa đã khai thác hết dẫn chứng bắt buộc tránh trường hợp ngược lại. Đồng thời khi trích dẫn hai loại dẫn chứng này phải đặt trong mối quan hệ bổ sung cho nhau, soi sáng vấn đề dưới nhiều góc độ khác nhau, tránh trường hợp so sánh tuyệt đối hóa dẫn đến cực đoan.

     Dẫn chứng phải tiêu biểu, xác đáng và có tính mới. Người viết có vốn dẫn chứng phong phú, lựa chọn dẫn chứng tiêu biểu, xác đáng và có tính mới. Học sinh thường lấy những dẫn chứng quen thuộc, được nhiều người biết đến để làm sáng tỏ cho vấn đề nghị luận. Để có những dẫn chứng mới, người viết phải có vốn hiểu biết sâu rộng, thông tin thời sự về văn học, đời sống xã hội... Khi lấy dẫn chứng cần chú ý đến tính hệ thống, được trích dẫn thường được sắp xếp trên trục thời gian tuyến tính (dẫn chứng ra đời trước trích trước và ngược lại) và không gian từ hẹp đến rộng, từ gần đến xa... (ví dụ lấy dẫn chứng trong nước rồi đến dẫn chứng nước ngoài).

Cuối cùng là chú ý tỉ lệ trích dẫn chứng với phân tích dẫn chứng. Trích dẫn chứng luôn đi liền với việc phân tích dẫn chứng. Một bài viết quá thiên về lí lẽ sẽ trở nên khô khan nhưng nếu chỉ trích dẫn chứng không thôi thỉ sẽ trở nên hời hợt, sáo rỗng, không sâu sắc

   IV. Kết quả nghiên cứu, kiểm nghiệm trong thực tiễn dạy học

   Để có cơ sở đáng tin cậy, sau một thời gian thực hiện, chúng tôi đã tiến hành khảo sát, kiểm tra, phân tích, tổng hợp và nhận thấy chất lượng bài kiểm tra 1 tiết, bài thi học kì I, kiến thức của đại đa số HS có chuyển biến tích cực. Chúng tôi tổng hợp như sau:

Bảng số liệu 1

Lớp (Sĩ số)

BÀI KIỂM TRA KHÔNG CÓ ỨNG DỤNG GIẢI PHÁP

> =8

6,5 -7,9

5,0 - 6,4

3,5 - 4,9

< 3,5

Trên Tb

SL

%

SL

%

SL

%

SL

%

SL

%

SL

%

12B6 (40)

(NH 2014-2015)

0

00

4

10

19

47.5

13

32.5

4

10

23

57.5

11A1(37) Bài 1 tiết số 3

(NH 2014-2015)

0

00

16

43.2

17

45.9

3

8.1

1

2.7

33

89.2

11B3(36) Bài 1 tiết số 3

(NH 2014-2015)

5

13.9

5

13.9

18

50

4

11.1

4

11.1

28

77.8

 

Bảng số liệu 2

Lớp (Sĩ số)

BÀI KIỂM TRA CÓ ỨNG DỤNG GIẢI PHÁP

> =8

6,5 -7,9

5,0 - 6,4

3,5 - 4,9

< 3,5

Trên Tb

SL

%

SL

%

SL

%

SL

%

SL

%

SL

%

12B6(40)

(NH 2014-2015)

1

2.5

10

25.0

18

45.0

11

27.5

0

00

29

72.5

11A1(37) Bài thi HKI môn Văn:

 (NH 2014-2015)

9

24.3

23

62.2

5

13.5

0

00

0

00

37

100

11B3(36) Bài thi HKI môn Văn:

(NH 2014-2015)

3

8.3

16

44.4

14

38.9

2

5.6

1

2.8

33

91.7

 

Xét kĩ hơn, trong phần đọc hiểu, học sinh đã làm tốt hơn. Trong 113 học sinh

Tổng số học sinh trong 4 lớp được khảo sát

BÀI KIỂM TRA TRƯỚC UDGP

BÀI KIỂM TRA SAU KHI UDGP

Điểm 1/3

Điểm 2/3

Điểm 3/3

Điểm 1/3

Điểm 2/3

Điểm 3/3

SL

%

SL

SL

%

SL

SL

%

SL

%

SL

%

113

36

31.9

58

51.3

19

16.8

17

15

62

54.9

34

30.1

                           

Trong quá trình dạy học, chúng tôi đã thực hiện giải pháp: Vài kinh nghiệm  RÈN CHO HOC SINH NẮM CHẮC CÁC KĨ NĂNG LÀM TỐT DẠNG BÀI TẬP DỌC HIỂU giúp học sinh làm quen kĩ năng làm tốt các dạng bài tập đọc hiểu trong đề thi, kiến thức của các em đã có hệ thống, tạo được mối liên kết nội dung bài học. Từ đó học sinh hứng thú, nhiệt tình, háo hức, tự giác, tích cực học tập hơn, không khí học tập đã hào hứng, sôi nổi, có sự cộng tác hơn giữa thầy và trò trong các dạng bài tập phần đọc hiểu.

            Tuy nhiên, để học sinh nắm phần đọc hiểu và tiết dạy có hiệu quả, giáo viên phải mất thời gian hơn cho sự đầu tư cho bài giảng. Khả năng tư duy, quan sát, chú ý, nhận xét, phân tích đánh giá vấn đề. Học sinh có sự đầu tư bài học, chuẩn bị nội dung bài học cũ và mới thật chu đáo.  Hoạt động dạy và học đạt hiệu quả cao nhất thì cần rất nhiều yếu tố như: đối tượng học sinh có nhiều khá giỏi hay có nhiều em yếu kém, sự chuẩn bị bài của giáo viên chu đáo và đặc biệt là sự chuẩn bị bài cũ, chuẩn bị bài mới của học sinh thì các em mới chủ động tích cực hoạt động tiết dạy mới thành công,  việc ứng dụng các phương tiện, kĩ thuật dạy học để học sinh dễ hiểu, để khắc sâu kiến thức cho học sinh là một giải pháp tích cực mang lại hiệu quả cao.

C. KẾT LUẬN

Nâng cao chất lượng học sinh giỏi, hạn chế học sinh yếu kém là mục tiêu cơ bản đối với sự nghiệp giáo dục hiện nay nhằm đào tạo con người toàn diện để đáp ứng yêu cầu công nghiệp hoá và hiện đại hoá đất nước. Giải quyết được vần đề khó khăn này đòi hỏi sự quan tâm của thầy cô giáo, Ban giám hiệu và hội phụ huynh học sinh để có chương trình  kế hoạch phối hợp dạy tốt, học tốt  để nâng cao chất lượng và hiệu quả giáo dục.  Dạy học đòi hỏi sự sáng tạo không ngừng. Mặc dù đã có nhiều cố gắng, nhưng những giải pháp mà tôi đưa ra ít nhiều còn mang tính chủ quan cá nhân, chỉ là những thực nghiệm bước đầu, tiến hành cho học sinh rèn kĩ năng làm các bài tập đọc hiểu nên chắc chắn còn thiếu sót, rất mong được sự đóng góp ý kiến từ quý bạn đồng nghiệp để giải pháp của tôi ngày càng hoàn thiện hơn và có ý nghĩa thiết thực trong dạy học bộ môn. Chúng tôi chỉ mong có thể làm được mọi cách tốt nhất có thể để nâng cao hiệu quả việc giảng dạy, hạn chế thấp nhất học sinh yếu kém, học sinh thi tốt nghiệp THPT thì đạt và luôn vượt mặt bằng tốt nghiệp bộ môn của tỉnh.

D.  KIẾN NGHỊ

- Đối với phụ huynh học sinh: cần quan tâm nhắc nhở thường xuyên những học sinh ham chơi, chán học, lười học, không chịu học, phối hợp chặt chẽ với giáo viên chủ nhiệm, đôn đốc,  chú trọng đến việc học của con em hơn nữa không giao phó toàn bộ trách nhiệm học tập cho nhà trường và thầy cô giáo, Học sinh nhận thức đúng việc chuẩn bị chu đáo bài học ở nhà.

- Đối với nhà trường và phụ huynh học sinh: Nếu được, trường và phụ huynh học sinh tạo điều kiện cho giáo viên phô tô các dạng bài tập đọc hiểu cho học sinh để nâng cao hiệu quả học tập và khắc sâu kiến thức,  đề nghị nhà trường trang bị âm thanh cho phòng học để ứng dụng công nghệ thông tin đạt hiệu quả hơn.

E. TÀI LIỆU THAM KHẢO

- Sách giáo khoa, sách giáo viên 10,11,12

- Chuẩn kiến thức kĩ năng 10,11,12

                 Nam Ban, ngày 28 tháng 02 năm 2015

               Người viết

 

 

 

 

 

                     Nguyễn Ngọc Liên

 




Gửi bình luận của bạn

Họ Tên   Email
   
Tiêu Đề Mã xác nhận




HÌNH ẢNH HOẠT ĐỘNG